Trang chủ » Ta là Cái Đó [80 – 84] – Chân sư

Ta là Cái Đó [80 – 84] – Chân sư

by Hậu Học Văn
340 views

80. Tánh biết

Hỏi: Giác ngộ cái Ta có cần đến thời gian hay thời gian chẳng giúp gì cho sự giác ngộ? Sự giác ngộ chính mình chỉ là vấn đề thời gian, hay còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác hơn là thời gian?

Maharaj: Mọi chờ đợi đều vô ích. Trông đợi vào thời gian để giải quyết vấn đề là tự lừa dối. Nếu cứ phó mặc tương lai thì nó chỉ lập lại quá khứ. Thay đổi chỉ có thể xảy ra bây giờ chứ không bao giờ xảy ra trong tương lai.

H: Cái gì đưa đến một sự thay đổi?

M: Thấy rõ sự cần thiết phải thay đổi. Chỉ thế thôi.

H: Sự giác ngộ chính mình xảy ra trong vật chất, hay bên ngoài? Không phải đó là một kinh nghiệm tùy thuộc vào thân và tâm để xảy ra hay sao?

M: Tất cả kinh nghiệm đều không thực, hữu hạn và thuộc về thời gian. Tự thân giác ngộ không phải là một kinh nghiệm, mặc dù giác ngộ có thể đưa đến một cõi giới mới của kinh nghiệm. Nhưng những kinh nghiệm mới, dù lý thú đến đâu, cũng không thật hơn cái cũ. Chắc chắn giác ngộ không phải là một kinh nghiệm mới. Nó là sự phát hiện yếu tố phi thời trong mọi kinh nghiệm. Đó là tánh biết, cái làm cho kinh nghiệm khả hữu. Cũng như trong tất cả mầu sắc, ánh sáng là yếu tố vô sắc, thì trong mọi kinh nghiệm luôn luôn có sự hiện diện của tánh biết, nhưng tánh biết thì không phải là một kinh nghiệm.

H: Nếu tánh biết không phải là một kinh nghiệm, làm sao nó có thể nhận ra nó?

M: Tánh biết luôn luôn có đó. Nó không cần phải được nhận ra. Hãy mở tấm màn che tâm thì tâm sẽ tràn ngập ánh sáng.

H: Cái gì là vật chất?

M: Cái ông không hiểu là vật chất?

H: Khoa học hiểu được vật chất?

M: Khoa học chỉ đẩy lùi những biến giới vô minh của con người.

H: Thế thiên nhiên là gì?

M: Tổng thể những kinh nghiệm hữu thức là thiên nhiên. Là một cái Ta hữu thức ông là một phần của thiên nhiên. Là tánh biết – ông ở ngoài. Thấy thiên nhiên chỉ là ý thức – là tánh biết.

H: Tánh biết có nhiều mức độ khác nhau không?

M: Có nhiều mức độ trong ý thức nhưng trong tánh biết thì không. Tánh biết là một khối duy nhất, thuần nhất. Ảnh phản chiếu của tánh biết trong tâm là tình yêu và hiểu. Có nhiều mức độ trong sáng trong hiểu, và nhiều cường độ khác nhau trong tình yêu, nhưng ở trong cội nguồn của chúng thì không có. Cội nguồn thì đơn giản và chân phương, nhưng khả năng thì vô biên. Tuy nhiên không nên nhận lầm khả năng với cội nguồn. Hãy nhận ra chính ông là cội nguồn, mà không phải giòng sông; tất cả chỉ có thế.

H: Tôi cũng là giòng sông.

M: Dĩ nhiên, ông là giòng sông. Là một “Ta là” ông là giòng sông chảy giữa hai bờ thân xác. Nhưng ông còn là nguồn, là đại dương và mây trời. Ở đâu có sự sống và ý thức ở đó có ông. Nhỏ hơn cái nhỏ nhất và lớn hơn cái lớn nhất, nhưng ông hiện hữu trong khi tất cả những cái khác chỉ xuất hiện.

H: Ý thức hiện hữu và ý thức sống là một và như nhau, hay khác biệt?

M: Sự đồng nhất trong không gian tạo ra một, sự tiếp tục trong thời gian tạo ra khác.

H: Có lần ông đã nói rằng người thấy, hành vi thấy và cái bị thấy là một duy nhất, không phải ba. Đối với tôi thì ba cái tách biệt. Tôi không nghi hoặc điều ông nói mà chỉ không hiểu.

M: Quan sát kỹ ông sẽ thấy người thấy và cái bị thấy chỉ xuất hiện khi có hành vi thấy. Cả hai là thuộc tính của thấy. Khi ông nói: “‘Ta là’ thấy cái này”. “‘Ta là’ và ‘cái này’ xuất hiện cùng với ‘thấy’ chứ không phải trước đó. Ông không thể có một “cái này” không bị thấy, hoặc một cái “Ta là” không năng thấy.

H: Tôi vẫn có thể nói: “Ta không thấy”.

M: Cái “‘Ta là’ thấy cái này” trở thành “‘Ta là’ thấy cái Ta không thấy” hoặc “‘Ta là’ thấy sự tối tăm”. Hành vi thấy vẫn còn. Trong bộ ba: Cái bị biết, biết và người biết, chỉ có biết là một thực tế. Cái “Ta là” và “cái này” thì không chắc thực. Ai biết? Cái gì được biết? Không có gì chắc thực cả, ngoại trừ biết.

H: Tại sao tôi chắc chắn về hành vi biết, mà không chắc chắn về người biết?

M: Biết, cùng với hiện hữu và tình yêu, là một ảnh phản chiếu của bản chất chơn thật của ông. Người biết và cái bị biết được tâm thêm vào. Bản chất của tâm là tạo ra trạng thái nhị nguyên – chủ thể và đối tượng, trong khi chúng không có.

H: Cái gì là nguyên nhân của tham ái và lo sợ?

M: Hiển nhiên là ký ức về đau khổ và lạc thú đã qua. Chẳng có gì là bí ẩn về điều này. Xung đột chỉ khởi sinh khi tham ái và lo sợ cùng liên quan đến một đối tượng.

H: Làm thế nào để kết liễu ký ức?

M: Điều đó không cần thiết và cũng không thể thực hiện được. Hãy nhận ra rằng tất cả xảy ra trong ý thức, còn ông là gốc rễ, là cội nguồn, là nền tảng của ý thức. Thế giới không gì khác hơn là một chuỗi dài những kinh nghiệm, và ông là cái làm cho những kinh nghiệm đó được biết, nhưng ông vẫn ở bên ngoài tất cả kinh nghiệm. Cũng như nhiệt, ngọn lửa và củi đang cháy. Nhiệt duy trì ngọn lửa, lửa tiêu thụ củi. Nếu không có nhiệt thì không có ngọn lửa mà cũng chẳng có nhiên liệu. Tương tự như thế, nếu không có tánh biết thì không có ý thức mà cũng chẳng có sự sống, nó là cái biến vật chất thành phương tiện chuyên chở ý thức.

H: Ông bảo rằng nếu không có tôi thì không có thế giới, và thế giới cùng với cái biết của tôi về thế giới thì như nhau. Khoa học đã đi đến một kết luận hoàn toàn khác biệt: Thế giới tồn tại như một cái gì đó cụ thể và liên tục, còn tôi chỉ là một phó sản của tiến hóa sinh học thuộc thần kinh hệ, chính ra thần kinh hệ cũng không phải là nơi chốn của ý thức, mà chỉ là công cụ sinh tồn như một cá nhân và chủng loại. Quan điểm của ông hoàn toàn chủ quan, trong khi khoa học tìm cách mô tả mọi vật một cách khách quan. Liệu mâu thuẫn này là tất yếu?

M: Sự rắc rối thì hiển nhiên và hoàn toàn chỉ là ngôn từ. Cái gì là – . Nó không phải chủ quan mà cũng chẳng phải khách quan. Vật chất và tâm không tách biệt, chúng chỉ là các phương diện của một năng lượng duy nhất. Nhìn tâm như một chức năng của vật chất, ông có khoa học; nhìn vật chất như sản phẩm của tâm, ông có tôn giáo.

H: Nhưng cái gì là đúng thật? Cái gì có trước, tâm hay vật chất?

M: Chẳng cái nào có trước vì không cái nào xuất hiện một mình. Vật chất là hình tướng, tâm là dang xưng. Cả hai cái tạo nên thế giới. Bao trùm và xuyên suốt tất cả là Thực tại: Hiện hữu thuần túy – tánh biết – cực lạc – chính là thể tánh của ông.

H: Tất cả những gì tôi biết là một giòng ý thức, một chuỗi bất tận của các diễn tiến. Giòng thời gian trôi chảy, không ngừng đem đến và mang đi. Tiến trình chuyển hóa tương lai thành quá khứ diễn ra không bao giờ chấm dứt.

M: Thế không phải ông là nạn nhân của chính ngôn ngữ của ông? Ông nói về giòng chảy của thời gian như thể ông đứng yên. Những sự kiện ông chứng kiến hôm qua có thể ai đó sẽ thấy vào ngày mai. Chính ông chuyển động chứ không phải thời gian. Chấm dứt chuyển động thì thời gian sẽ ngừng.

H: Thời gian sẽ ngừng nghĩa là thế nào?

M: Quá khứ và tương lai sẽ hội nhập vào cái bây giờ vĩnh cửu.

H: Điều đó nghĩa là thế nào trong kinh nghiệm thực tế? Làm sao ông biết thời gian đã ngừng đối với ông?

M: Điều đó có thể có nghĩa là quá khứ và tương lai không còn quan trọng nữa. Mà cũng có nghĩa là tất cả những gì đã xảy ra và sẽ xảy ra trở thành một cuốn sách đang mở và có thể đọc theo ý muốn.

H: Tôi có thể hình dung một loại ký ức vũ trụ, có thể tiếp cận bằng một sự tu luyện nào đó. Nhưng làm sao có thể biết được tương lai? Cái bất ngờ là tất yếu.

M: Cái gì bất ngờ ở bình diện này lại chắc chắn có thể xảy ra khi nhìn từ một bình diện cao hơn. Xét cho cùng, chúng ta đều ở trong những giới hạn của tâm. Trong thực tế không có gì xảy ra, không có quá khứ mà cũng chẳng có tương lai; tất cả đều xuất hiện nhưng không có gì hiện hữu.

H: Không có gì hiện hữu nghĩa là thế nào? Ông trở nên vô ký, hay ngủ say? Hay ông làm cho thế giới biến mất và giữ chúng tôi trong tình trạng trống vắng cho đến khi chúng tôi được trả lại cho sự sống vào lúc ý nghĩ kế tiếp của ông chợt lóe lên?

M: Ồ, không, không đến nỗi tệ như thế đâu. Thế giới của tâm và vật, của danh xưng và hình tướng vẫn tiếp diễn, nhưng nó chẳng còn là quan trọng với Ta nữa. Cũng như cái bóng. Nó có đó, theo chân Ta bất cứ nơi nào Ta đến, nhưng không còn ngăn trở Ta nữa. Nó vẫn là thế giới của kinh nghiệm, nhưng không phải là thế giới của danh xưng và hình tướng liên hệ với Ta bởi tham ái và lo sợ. Các kinh nghiệm không còn đặc tính, mà chỉ là thuần kinh nghiệm nếu Ta có thể nói là như thế. Ta gọi chúng là kinh nghiệm vì không còn từ ngữ nào thích hợp hơn. Chúng cũng như những con sóng trên bề mặt đại dương – tức cái thường tại – nhưng không tác động đến sức an định của đại dương.

H: Ông muốn nói là một kinh nghiệm có thể là vô danh xưng, vô hình tướng và không thể xác định?

M: Thoạt tiên, tất cả kinh nghiệm là như thế. Chính tham ái và lo sợ – sinh khởi từ ký ức – gán cho kinh nghiệm danh xưng và hình tướng, và tách biệt nó khỏi những kinh nghiệm khác.

Nó không phải là một kinh nghiệm ý thức được, vì nó không đối nghịch với những kinh nghiệm khác, nhưng nó vẫn là một kinh nghiệm.

H: Nếu nó không ý thức được, tại sao lại nói về nó?

M: Hầu hết kinh nghiệm của ông là vô thức. Những kinh nghiệm ý thức được thì rất ít. Ông không biết đến thực tế này, bởi vì đối với ông chỉ những kinh nghiệm ý thức được mới đáng kể. Phải biết cái vô thức.

H: Liệu một người có thể biết cái vô thức? Làm thế nào để biết?

M: Tham ái và lo sợ ngăn che và làm cho các yếu tố biến dạng. Khi tâm không còn tham ái và lo sợ thì cái vô thức trở nên có thể tiếp cận được.

H: Điều đó có nghĩa cái vô thức được trở thành ý thức?

M: Ngược lại thì đúng hơn. Ý thức trở thành một với vô thức. Khác biệt không còn nữa, ông muốn nhìn theo cách nào cũng thế.

H: Tôi thật bối rối. Làm sao một người có thể biết nhưng lại vô thức?

M: Tánh biết không giới hạn trong ý thức. Tánh biết thuộc về tất cả những gì hiện hữu. Ý thức thì thuộc về nhị nguyên. Không có nhị nguyên trong tánh biết. Tánh biết là một khối duy nhất của nhận thức thuần túy. Tương tự như thế, một người có thể nói về hiện hữu thuần túy và sáng tạo thuần túy – vô danh xưng, vô hình tướng, im lặng nhưng hoàn toàn chơn thật, mãnh liệt và hữu hiệu. Sự hiện hữu của chúng không thể mô tả được nhưng điều đó không hề ảnh hưởng đến chúng. Dù chúng là vô thức, nhưng rất thiết yếu. Ý thức không thể thay đổi một cách cơ bản, mà chỉ có thể sửa đổi. Tất cả mọi thứ, để thay đổi, phải trải qua cái chết, qua sự thoái hóa và hủy hoại. Một món trang sức bằng vàng phải được nấu chảy trước khi được đổ vào khuôn để tạo ra một hình dáng mới. Cái gì không chấp nhận chết đi thì không thể tái sinh.

H: Không kể đến cái chết của thân xác, một người chết như thế nào?

M: Rút lui, xa lánh, buông bỏ là chết. Để sống một cách viên mãn chết là thiết yếu; mỗi một kết thúc tạo ra một khởi đầu mới.

Mặt khác, phải hiểu được rằng chỉ người chết mới có thể chết, chứ không phải người sống. Cái đang sống trong ông thì bất tử.

H: Tham ái lấy năng lượng từ đâu?

M: Tham ái lấy danh xưng và hình tướng của nó từ ký ức. Năng lượng tuôn chảy từ cội nguồn.

H: Có những tham ái hoàn toàn sai lầm. Làm sao tham ái sai lầm lại chảy ra từ cội nguồn cao cả?

M: Cội nguồn thì không đúng mà cũng chẳng sai. Tự thân ước muốn thì không sai mà cũng chẳng đúng. Nó chỉ là sự phấn đấu cho hạnh phúc. Sau khi đồng hóa chính ông với hạt bụi thân xác, ông cảm thấy mất đi cội nguồn ấy và tìm kiếm một cách tuyệt vọng cái cảm giác đầy đủ và trọn vẹn mà ông gọi là hạnh phúc.

H: Tôi đã mất nó bao giờ? Tôi chưa bao giờ có nó.

M: Ông đã có nó trước khi ông thức dậy sáng nay. Hãy ra ngoài ý thức của ông và ông sẽ tìm thấy nó.

H: Làm sao tôi ra ngoài ý thức?

M: Ông biết rồi; hãy làm đi.

H: Đó là ông nói. Tôi chẳng biết gì về nó.

M: Ta lập lại – ông biết nó. Hãy làm đi. Hãy ra ngoài, trở lại với trạng thái bình thường, tự nhiên và siêu việt của ông.

H: Tôi không hiểu gì cả.

M: Một hạt bụi trong mắt khiến ông nghĩ ông mù. Hãy rửa mắt và nhìn.

H: Tôi vẫn nhìn! Và chỉ thấy bóng tối.

M: Hãy lấy hạt bụi ra và ánh sáng sẽ tràn vào mắt ông. Ánh sáng vẫn ở đó – chờ đợi. Mắt có đó – sẵn sàng. Bóng tối mà ông thấy chỉ là cái bóng của hạt bụi. Hãy lấy hạt bụi ra và trở lại trạng thái tự nhiên của ông.

❁ ❁ ❁

81. Căn nguyên của sợ hãi

Maharaj: Ông ở đâu đến?

Hỏi: Tôi là người Mỹ nhưng hầu hết thời gian sống ở Âu châu và mới đến Ấn Độ. Tôi có lưu lại hai tịnh xá ở Rishikesh, học thiền quán và cách hít thở.

M: Ông ở đó bao lâu?

H: Tôi đã lưu lại một tịnh xá tám ngày, và một tịnh xá khác sáu ngày. Tôi không cảm thấy vui thích ở đó và đã bỏ đi. Sau đó tôi sống gần các Lạt ma Tây tạng ba tuần, và nhận thấy tất cả sinh hoạt của họ đều khép kín trong các công thức và nghi lễ.

M: Kết quả thực sự thu được sau các lần đó là gì?

H: Hiển nhiên là nội lực của tôi có gia tăng. Trước khi đi Rishikesh tôi có nhịn ăn một thời gian và theo chế độ ăn kiêng ở viện An Dưỡng và Trị Liệu Tự Nhiên ở Pudukkotai thuộc Nam Ấn. Kết quả đối với tôi rất tốt.

M: Có lẽ nội lực gia tăng là do sức khỏe tốt hơn.

H: Tôi không rõ. Nhưng kết quả của những lần tu tập là nhiệt năng bắt đầu phát ra và ở nhiều chỗ khác nhau trong cơ thể tôi, và tôi nghe tiếng tụng kinh và tiếng nói mặc dù không có trong thực tế.

M: Thế bây giờ ông theo đuổi cái gì?

H: Hừ! Tất cả chúng ta theo đuổi cái gì nhỉ? Một sự thật nào đó, một sự an định nội tâm nào đó, một thứ hạnh phúc chơn thật nào đó. Trong các trường hợp khác nhau về sự giác ngộ chính mình, người ta nói rất nhiều về tánh biết, khiến cho người nghe có cảm tưởng rằng tự thân tánh biết là thực tại tối thượng; liệu có thật là như thế? Thân xác được bộ óc chăm sóc, bộ óc được ý thức chiếu sáng, tánh biết trông nom cho ý thức; liệu có gì bên ngoài tánh biết?

M: Làm sao ông biết ông biết?

H: Tôi cảm thấy tôi hiện hữu. Tôi không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn.

M: Khi ông để ý theo dõi từ não bộ qua ý thức đến tánh biết, ông nhận thấy ý thức nhị nguyên luôn luôn có đó. Ở ngoài tánh biết là trạng thái bất nhị, trong đó không có nhận thức mà chỉ có hiện hữu thuần túy, mà còn có thể được gọi là phi hiện hữu, nếu ông hiểu hiện hữu có nghĩa là một cái gì đó riêng biệt.

H: Cái ông gọi là hiện hữu thuần túy có phải là hiện hữu vũ trụ, là tất cả mọi vật?

M: Tất cả hàm ý một tập hợp của những cái riêng biệt. Trong hiện hữu thuần túy ngay chính ý tưởng về sự riêng biệt không có.

H: Có sự liên hệ nào giữa hiện hữu thuần túy và hiện hữu riêng biệt?

M: Cái gì có thể là sự liên hệ giữa cái và cái chỉ có vẻ như là? Liệu có sự liên hệ nào giữa biển và sóng? Cái thật làm cho cái không thật xuất hiện, và làm cho nó biến mất. Sự tiếp nối của những khoảnh khắc thoáng qua tạo nên ảo tưởng về thời gian, nhưng thực tại vô thời của hiện hữu thuần túy thì không hề chuyển động, vì tất cả chuyển động đều cần có một hậu cảnh bất động. Thực tại chính là hậu cảnh. Một khi đã nhận ra nó trong ông, ông sẽ biết được rằng chưa bao giờ ông đã mất sự hiện hữu bất tùy thuộc đó, nó bất tùy thuộc mọi phân chia và khác biệt. Nhưng đừng tìm nó trong ý thức, ông sẽ không thấy nó trong đó. Đừng tìm kiếm nó bất cứ đâu vì không có gì dung chứa nó. Trái lại, nó dung chứa tất cả và làm cho tất cả thị hiện. Cũng như ánh sáng, nó làm cho tất cả trở nên hữu hình nhưng chính nó thì vẫn vô hình.

H: Thưa ông, khi nói cho tôi biết không thể tìm thấy thực tại trong ý thức thì điều này có ích gì cho tôi? Tôi phải tìm kiếm nó ở nơi nào khác? Làm sao ông hiểu rõ nó?

M: Nó rất đơn giản. Nếu Ta hỏi miệng ông có vị gì, thì ông chỉ có thể trả lời: Nó không ngọt mà cũng không đắng, không chua mà cũng không chat; nó là cái gì còn lại sau khi tất cả các vị này không có. Tương tự như thế, khi tất cả mọi khác biệt và phản ứng không còn, cái còn lại là thực tại, đơn giản và chắc chắn.

H: Tôi chỉ hiểu có một điều là tôi đang ở trong tầm khống chế của một ảo ảnh không có sự bắt đầu. Tôi không biết nó sẽ kết thúc như thế nào. Nếu kết thúc được thì nó đã kết thúc từ lâu lắm rồi. Chắc chắn là tôi đã phải có rất nhiều cơ hội trong quá khứ cũng như tôi sẽ phải có trong tương lai. Cái không thể xảy ra thì không thể xảy ra. Hoặc, nếu đã xảy ra thì nó không thể tồn tại lâu. Tình trạng đáng thương của chúng ta sau hàng triệu năm, nếu tốt nhất thì chuyên chở sự hứa hẹn của một sự tận diệt tối hậu, còn xấu nhất thì mối đe dọa của một sự lập đi lập lại bất tận và vô nghĩa.

M: Bằng chứng nào mà ông cho rằng trạng thái hiện tại của ông không có sự bắt đầu và cũng không chấm dứt? Trước khi ông sinh ra ông đã như thế nào? Sau khi ông chết đi ông sẽ ra sao? Còn về trạng thái hiện tại của ông – ông biết được bao nhiêu? Thậm chí trạng thái của ông trước khi thức dậy sáng nay ông còn không biết. Ông chỉ biết rất ít về trạng thái hiện tại của ông rồi căn cứ vào đó ông rút ra kết luận về mọi thời và mọi nơi. Có thể ông đang chiêm bao và tưởng tượng giấc chiêm bao của ông là vĩnh cửu.

H: Có gọi trạng thái hiện tại của tôi là chiêm bao thì cũng chẳng thay đổi được tình thế. Tôi lập lại câu hỏi của tôi: Còn hy vọng gì khi cái vĩnh cửu đằng sau tôi không thể đáp ứng? Tại sao tương lai của tôi lại khác biệt với quá khứ?

M: Trong trạng thái xúc động, ông phóng chiếu ra quá khứ và tương lai, rồi cho đó là thật. Thật ra, ông chỉ biết khoảnh khắc hiện tại của ông. Tại sao không tìm hiểu cái gì là bây giờ, thay vì thắc mắc quá khứ và tương lai tưởng tượng? Trạng thái hiện tại của ông không phải không có sự khởi đầu hoặc không có sự kết thúc. Nó qua đi trong chớp nhoáng. Quan sát kỹ xem nó từ đâu đến và nó đi đâu. Ông sẽ sớm nhận ra thực tại phi thời đằng sau nó.

H: Tại sao trước kia tôi không làm điều này?

M: Cũng như mọi con sóng chìm lắng vào đại dương thì mỗi một khoảnh khắc trở về với cội nguồn của nó. Giác ngộ là tìm ra nguồn gốc và an trú ở đó.

H: Ai tìm ra?

M: Tâm tìm ra.

H: Tâm có tìm ra câu trả lời?

M: Tâm tìm ra rằng nó không còn lại câu hỏi nào, vì chẳng có câu trả lời nào là cần thiết.

H: Sinh ra là một thực tế. Chết đi là một thực tế khác. Chúng xuất hiện như thế nào đối với nhân chứng?

M: Một đứa trẻ được sinh ra, và một người chết đi –  chỉ là những sự kiện trên giòng thời gian.

H: Có sự tiến bộ nào trong nhân chứng không? Tánh biết có tiến hóa không?

M: Cái được thấy có thể trải qua nhiều thay đổi khi ánh sáng của tánh biết tập trung vào nó, nhưng thay đổi là đối tượng thay đổi, chứ không phải ánh sáng. Cây cối tăng trưởng trong ánh sáng mặt trời, nhưng mặt trời thì không hề tăng trưởng. Tự thân thân xác và nhân chứng thì bất động, nhưng khi được đem vào tâm thì chúng có vẻ như chuyển động.

H: Vâng, tôi có thể thấy cái chuyển động và thay đổi chỉ là cái “Ta hiện hữu”. Cái “Ta hiện hữu” có cần thiết không?

M: Ai cần nó? Nó có đó – ngay bây giờ. Nó đã có một sự khởi đầu và nó sẽ có một sự chấm dứt.

H: Cái gì còn lại sau khi cái “Ta hiện hữu” ra đi?

M: Cái không đến không đi – còn lại. Chính cái tâm tham lam đẻ ra những ý tưởng về phát triển và tiến hóa để đi đến sự toàn hảo. Chính tâm gây rối nhưng lại nói về ổn định, phá hoại nhưng lại tìm kiếm sự an toàn.

H: Trong định mệnh, trong nghiệp có sự tiến bộ không?

M: Nghiệp – Karma – chỉ là cái kho tàng trữ những năng lượng chưa được sử dụng, những tham ái chưa được thỏa mãn và những sợ hãi chưa được hiểu rõ. Kho chứa thường xuyên được cung cấp thêm những tham ái và lo sợ mới. Nó không cần phải như thế mãi mãi. Hiểu rõ: căn nguyên của sợ hãi là sự xa lìa chính ông; hiểu rõ: nguồn gốc của tham ái là sự khao khát cái Ta, thì nghiệp của ông sẽ tan biến như một giấc chiêm bao. Sự sống vẫn tiếp diễn giữa trời và đất. Chẳng có gì bị ảnh hưởng, chỉ có thân xác tăng trưởng và hư hoại.

H: Sự liên hệ giữa con người và nhân chứng là gì?

M: Không thể có sự liên hệ giữa con người và nhân chứng vì cả hai chỉ là một. Đừng phân chia và đừng tìm kiếm sự liên hệ.

H: Nếu người thấy và cái bị thấy là một thì tại sao phân chia lại xảy ra?

M: Bị mê hoặc bởi danh xưng và hình tướng – mà bản chất của chúng là khác biệt và đa dạng – ông phân biệt cái gì là tự nhiên và phân chia cái gì là một duy nhất. Thế giới thì phong phú trong tính đa dạng, nhưng ông cảm thấy xa lạ và sợ hãi là vì ông hiểu sai. Chính thân xác gặp nguy hiểm, chứ không phải ông.

H: Tôi có thể thấy nỗi sợ sinh học cơ bản – bản năng bỏ chạy – xuất hiện dưới nhiều hình tướng và làm cho ý nghĩ và cảm xúc của tôi biến dạng. Sự lo sợ này xuất hiện như thế nào?

M: Nó là một trạng thái của tâm sinh khởi từ ý tưởng “Ta là thân xác”. Cả hai ý tưởng đều sai lầm, nhưng cái này loại trừ cái kia. Nên nhớ rằng không có ý tưởng nào là của chính ông, chúng đến với ông từ bên ngoài. Ông phải quán tưởng cho ra lẽ, ông phải trở thành đối tượng mà ông thiền quán. Nỗ lực tìm hiểu chính ông là Yoga. Hãy là một Yogi, hãy dành trọn cuộc sống cho Yoga, hãy tư duy, tìm hiểu, tìm kiếm cho đến khi ông đến tận nguồn gốc của sai lầm, và chân lý ở ngoài mọi sai lầm.

H: Ai thiền trong thiền? Con người hay nhân chứng?

M: Thiền là một sự dụng công có chủ đích nhằm xuyên thủng vào những trạng thái cao hơn của ý thức và cuối cùng vượt ra ngoài ý thức. Nghệ thuật của thiền là nghệ thuật thay đổi tiêu điểm của sự chú ý đối với những giai tầng mỗi lúc một vi tế hơn của ý thức, mà không lơi lỏng những giai tầng bỏ lại phía sau. Về một phương diện, thiền cũng như trạng thái chết được kiểm soát. Một người bắt đầu với những giai tầng thấp nhất: Các hoàn cảnh, tập quán và thói quen xã hội; môi trường vật lý xung quanh, tư thế và cách thở của thân xác; các giác quan cùng với các cảm giác và nhận thức; tâm cùng với những ý nghĩ và cảm thọ; cho đến khi toàn thể bộ máy về tính cách con người được hiểu và được nắm chắc. Giai đoạn cuối cùng của thiền được đạt đến khi ý thức nhận dạng vượt ra khỏi trạng thái “Ta là thế này thế nọ,” vượt ra khỏi trạng thái “như vậy là Ta,” vượt ra khỏi trạng thái “Ta chỉ là nhân chứng,” vượt ra khỏi trạng thái “đó là,” vượt ra khỏi tất cả mọi ý tưởng để nhập vào sự hiện hữu thuần túy phi nhân cách cá nhân. Nhưng ông phải rất mãnh liệt khi hành thiền. Chắc chắn hành thiền không phải là một công việc bán thời gian (part-time occupation). Giới hạn những quan tâm và sinh hoạt chỉ trong những gì cần thiết cho ông và những nhu cầu tối thiểu của những người tùy thuộc ông. Dành hết năng lượng và thời gian để phá vỡ bức tường mà tâm đã dựng lên quanh ông. Cứ tin Ta đi, ông sẽ không ân hận đâu.

H: Làm sao tôi biết được kinh nghiệm của tôi có tính cách vũ trụ?

M: Vào lúc chấm dứt của thiền tất cả đều được biết một cách trực tiếp, chẳng cần đến bất cứ bằng chứng nào. Cũng như mỗi một giọt nước biển đều mang mùi vị của biển, thì mỗi một khoảnh khắc đều mang mùi vị của vĩnh cửu. Định nghĩa và mô tả có một vị trí nhất định như là những khuyến khích hữu ích cho sự tìm hiểu sâu xa hơn, nhưng ông phải vượt ra khỏi mọi định nghĩa và mô tả – ngoại trừ những ngôn từ phủ định – để đi vào cái bất khả định nghĩa và bất khả mô tả.

Xét cho cùng, ngay cả tính vũ trụ và tính vĩnh cửu đơn thuần chỉ là khái niệm – là sự đối nghịch của những gì bị ràng buộc bởi nơi chốn và thời gian. Thực tại thì không phải là một khái niệm, mà cũng không phải là sự thị hiện của một khái niệm. Thực tại không hề liên quan đến khái niệm. Hãy chú ý đến tâm ông, loại bỏ những biến dạng và cấu nhiễm của nó. Một khi đã chứng nghiệm cái Ta của chính ông, ông sẽ tìm thấy nó ở bất cứ đâu và trong mọi thời. Do đó, đến với cái Ta của ông là quan trọng như thế. Một khi đã biết nó, ông không bao giờ có thể mất nó.

Nhưng ông phải dành cho chính ông cơ hội qua sự hành thiền thâm sâu, và thậm chí là gian khổ.

H: Một cách chính xác ông muốn tôi phải làm gì?

M: Dành trọn trái tim và tâm trí suy gẫm cái “Ta hiện hữu”, nó là cái gì? nó là thế nào? nguồn gốc của nó, cuộc sống của nó, ý nghĩa của nó là gì? Cũng giống như đào giếng. Ông từ chối tất cả những gì không phải là nước, cho đến khi đạt đến giòng nước đem lại sự sống.

H: Làm sao tôi biết mình đi đúng đường?

M: Bằng sự tiến bộ của ông trong quyết tâm, trong sự trong sáng và tận tình với công việc ông theo đuổi.

H: Người Âu châu chúng tôi nhận thấy giữ im lặng thật là khó. Thế giới thì quá nhiều với chúng tôi?

M: Ồ không, người Ấn cũng là những kẻ chiêm bao. Chúng ta chỉ khác nhau về nội dung của giấc chiêm bao. Các ông theo đuổi sự toàn hảo trong tương lai. Người Ấn miệt mài tìm kiếm nó trong hiện tại. Chỉ cái hữu hạn mới có thể được làm cho toàn hảo. Cái vô hạn thì đã toàn hảo. Ông đã toàn hảo nhưng chỉ có điều là ông không biết ông toàn hảo. Hãy học cách biết chính ông và ông sẽ khám phá ra những điều kỳ diệu.

Tất cả những gì ông cần đều sẵn có trong ông, nhưng ông phải tiếp cận cái Ta của ông với lòng tôn kính và tình yêu. Lên án cái Ta và ngờ vực cái Ta là những sai lầm nghiêm trọng. Hành vi chạy trốn đau đớn và tìm kiếm lạc thú của ông là dấu hiệu của tình yêu ông mang cho cái Ta của ông. Tất cả những gì Ta có thể nói với ông là: Hãy yêu cái Ta của ông một cách toàn hảo. Đừng từ chối chính ông bất cứ gì – hãy cho cái Ta của ông sự vô tận và vĩnh cửu, và ông sẽ nhận ra rằng ông chẳng cần đến chúng; ông siêu vượt ra ngoài.

❁ ❁ ❁

82. Sự toàn hảo tuyệt đối ở đây và bây giờ

Hỏi: Chiến tranh đang xảy ra. Thái độ của ông đối với chiến tranh như thế nào?

Maharaj: Chiến tranh luôn xảy ra dưới hình thức này hay hình thức khác, ở nơi này hay nơi khác. Liệu có bao giờ chưa từng có chiến tranh? Có người cho rằng chiến tranh là ý Chúa. Có người bảo đó là trò chơi của Thượng đế. Đó là một cách nói chiến tranh là tất yếu và chẳng có ai là người chịu trách nhiệm.

H: Nhưng thái độ của riêng ông thì thế nào?

M: Tại sao lại áp đặt thái độ lên Ta? Ta không có thái độ nào gọi là của riêng Ta.

H: Chắc chắn phải có người chịu trách nhiệm về những tàn sát kinh hoàng và vô nghĩa này. Tại sao người ta có thể sẵn sàng chém giết nhau như thế?

M: Hãy tìm ra thủ phạm bên trong. Những ý tưởng như “ta” và “của ta” ở ngay nguồn gốc của mọi xung đột. Loại bỏ chúng và ông sẽ thoát khỏi xung đột.

H: Tôi thoát ra khỏi xung đột thì đã sao? Điều đó sẽ chẳng tác động gì đến chiến tranh. Nếu tôi là nguyên nhân của chiến tranh thì tôi sẵn sàng để bị tiêu diệt. Nhưng rõ ràng là sự biến mất của hàng ngàn người như tôi vẫn không chấm dứt được chiến tranh. Chiến tranh không bắt đầu khi tôi được sinh ra, và sẽ không kết thúc khi tôi chết đi. Tôi chẳng có trách nhiệm gì. Ai là kẻ chịu trách nhiệm?

M: Xung đột và chiến tranh là một phần của sự tồn tại. Tại sao ông không tìm hiểu ai là kẻ trách nhiệm về sự tồn tại?

H: Tại sao ông cho rằng tồn tại và xung đột là bất khả phân? Liệu không thể nào có sự tồn tại mà không có xung đột? Tôi không cần phải tranh đấu với ai để là chính tôi cả?

M: Ông luôn luôn tranh đấu với tha nhân để sinh tồn như một thân-tâm riêng biệt, một danh xưng và hình tướng đặc thù. Để sống ông phải tiêu diệt. Ngay từ lúc nhập thai ông đã khởi sự một cuộc chiến với môi trường quanh ông – một cuộc chiến hủy diệt tương tàn, cho đến khi cái chết giải thoát ông.

H: Câu hỏi của tôi vẫn chưa được trả lời. Ông chỉ mô tả những gì tôi đã biết: Cuộc đời và những nỗi đau khổ của nó. Nhưng ai là kẻ chịu trách nhiệm thì ông không nói. Khi tôi dồn ép ông thì ông đổ lỗi cho Thượng đế, cho nghiệp, hoặc tham ái của chính tôi – và như thế chỉ đẻ ra thêm câu hỏi. Xin cho tôi câu trả lời chung cuộc.

M: Câu trả lời chung cuộc là: Chẳng có gì hiện hữu. Tất cả chỉ là sự xuất hiện nhất thời trong phạm trù của ý thức vũ trụ; tiếp tục với danh xưng và hình tướng chỉ là sự dựng lập của tâm, rất dễ tan rã.

H: Tôi hỏi về cái tức thời, cái biến diệt, cái biểu hiện. Đây là tấm ảnh của một đứa trẻ bị lính giết. Đó là một thực tế đang trừng mắt nhìn ông. Ông không thể phủ nhận nó. Sao, ai là kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của đứa trẻ?

M: Chẳng có ai chịu trách nhiệm và mọi người đều chịu trách nhiệm. Thế giới là những gì nó dung chứa và mỗi cái tác động đến tất cả những cái khác. Tất cả chúng ta giết đứa trẻ và tất cả chúng ta cùng chết với nó. Mỗi một sự kiện có vô số nguyên nhân, và gây ra vô số hậu quả. Ngồi tính sổ chỉ là chuyện vô ích, không gì có thể truy tìm được.

H: Người Ấn các ông nói về nghiệp và quả báo.

M: Đó chỉ là một phỏng định chung chung, trong thực tế tất cả chúng ta đều là người tạo ra và vật được tạo ra của lẫn nhau, chúng ta gây nên và hứng chịu những gánh nặng của lẫn nhau.

H: Như thế là kẻ vô tội chịu đau khổ cho kẻ có tội?

M: Trong sự vô minh của ông, chúng ta đều vô tội; trong hành động của chúng ta, chúng ta đều có tội. Chúng ta phạm tội mà không biết, và đau khổ mà không hiểu tại sao. Hy vọng duy nhất của chúng ta là: Dừng lại, quan sát, hiểu và thoát ra khỏi sự giam cầm của ký ức. Vì ký ức nuôi dưỡng tưởng tượng và tưởng tượng đẻ ra tham ái và lo sợ.

H: Tại sao tôi lại tưởng tượng?

M: Ánh sáng của ý thức chiếu qua cuốn phim ký ức và phóng chiếu hình ảnh lên não bộ của ông. Vì tình trạng kém cỏi và bất ổn của não bộ, những gì ông nhận thức bị vo tròn bóp méo và được tô mầu bởi những cảm tính thích và không thích. Tu sửa cách suy nghĩ của ông cho ngay thẳng, và loại bỏ những cảm tính phụ thêm vào, ông sẽ thấy con người và sự vật như thị, với tất cả sự trong sáng và bao dung.

Nhân chứng của sự sinh ra, sống và chết là một, và như nhau. Đó cũng là nhân chứng của sự đau khổ và tình yêu. Vì, mặc dù sống trong cái hữu hạn và phân chia là đau khổ, nhưng chúng ta vẫn yêu cuộc sống. Chúng ta yêu nó và cũng ghét nó. Chúng ta gây chiến, chém giết, tiêu diệt sinh mạng và tài sản, nhưng chúng ta vẫn yêu thương và hy sinh chính mình. Chúng ta nuôi nấng một đứa trẻ thật trìu mến nhưng cũng biến nó thành mồ côi. Cuộc đời đầy những mâu thuẫn, nhưng chúng ta vẫn bám víu vào nó. Sự bám víu này có trong nguồn gốc của tất cả, nhưng vẫn hoàn toàn hời hợt. Chúng ta bám víu vào một cái gì đó hoặc một ai đó với tất cả sức mạnh, nhưng chỉ một lát sau là quên ngay; cũng như một đứa trẻ nặn bánh đất và từ bỏ chúng rất dễ dàng. Nếu ai đụng đến những cái bánh đất thì nó la hét giận dữ, nhưng nếu làm cho nó chú ý đến một cái gì khác thì những cái bánh đất kia sẽ bị quên ngay. Vì cuộc sống của chúng ta là bây giờ, và tình yêu cuộc sống cũng là bây giờ. Chúng ta yêu tính đa dạng – trò chơi của đau khổ và lạc thú – chúng ta bị mê hoặc bởi sự tương phản. Chính vì thế chúng ta cần những cái đối nghịch và tính phân chia hiển nhiên của nó. Chúng ta vui thích nó trong một lúc rồi chán chê và khao khát sự an định và tĩnh lặng của hiện hữu thuần túy. Trái tim vũ trụ không bao giờ ngừng đập. Ta là nhân chứng và cũng là trái tim đó.

H: Tôi có thể thấy bức tranh, nhưng ai là người vẽ? Ai là kẻ chịu trách nhiệm về kinh nghiệm khủng khiếp nhưng vẫn đáng yêu này?

M: Người vẽ ở ngay trong bức tranh. Ông tách người vẽ ra khỏi bức tranh và đi tìm người vẽ. Đừng phân chia và cũng đừng đặt những câu hỏi không đúng. Mọi vật là như chúng là và chẳng có một ai riêng biệt chịu trách nhiệm. Ý tưởng về trách nhiệm cá nhân khởi sinh từ ảo tưởng về tác nhân: “Chắc có ai đã làm điều đó, vì thế phải có ai đó chịu trách nhiệm.” Xã hội như hiện nay, với những khuôn khổ pháp luật và tập quán, được dựng lập trên ý tưởng về một tính cách cá nhân riêng biệt và có trách nhiệm, nhưng đó không phải hình thức duy nhất của xã hội. Có thể có những hình thức khác, mà trong đó ý thức về sự phân chia rất mơ hồ và trách nhiệm thì rất phân tán.

H: Một cá nhân chỉ có ý thức mờ nhạt về tính cách con người thì liệu có kề cận với sự giác ngộ chính mình?

M: Lấy trường hợp của một đứa trẻ. Ý thức về cái “Ta hiện hữu” chưa thành hình, tính cách con người còn rất phôi thai. Những chướng ngại đối với sự nhận biết cái Ta còn rất ít, nhưng cường độ và mức độ trong sáng của sự biết, cũng như chiều rộng và chiều sâu của sự biết thì hầu như không có. Cùng với thời gian sự biết sẽ tăng trưởng dần, nhưng đồng thời tính cách con người tiềm tàng dần dần xuất hiện, từ lờ mờ trở thành phức tạp. Cũng như gỗ càng chắc thì lửa càng nóng, tính cách con người càng mạnh thì ánh sáng – phát sinh từ sự hủy diệt của nó – càng rực rỡ.

H: Ông không còn phiền toái?

M: Ta còn phiền toái chứ. Ta đã nói với ông rồi. Hiện hữu, tồn tại với một danh xưng và hình tướng thì đầy đau khổ, nhưng Ta yêu nó.

H: Nhưng ông yêu tất cả!

M: Tồn tại dung chứa tất cả. Bản tánh của Ta là yêu; ngay cả đau đớn cũng đáng yêu.

H: Nhưng điều đó không làm cho đau đớn bớt đi đau đớn. Tại sao ông không ở trong cái vô hạn?

M: Chính bản năng khám phá, tình yêu của cái không biết đã đem Ta vào hiện hữu. Chính bản chất của hiện hữu là thấy sự phiêu lưu trong sự trở thành, cũng như trong bản chất của sự trở thành là tìm kiếm sự an định trong hiện hữu. Sự luân phiên của hiện hữu và trở thành là tất yếu; nhưng ngôi nhà của Ta ở ngoài cả hai.

H: Thế ngôi nhà của ông ở trong Thượng đế?

M: Yêu kính và tôn thờ một Thượng đế cũng là vô minh. Ngôi nhà của Ta ở ngoài mọi quan niệm, dù cao cả đến đâu.

H: Nhưng Thượng đế không phải là một quan niệm! Thượng đế là thực tại ở ngoài sự tồn tại.

M: Ông có thể dùng bất cứ ngôn từ nào ông thích. Bất cứ gì ông có thể nghĩ tưởng được – thì Ta ở ngoài.

H: Một khi ông đã biết nhà của ông, vì sao ông không ở nhà? Điều gì khiến ông ra khỏi nhà?

M: Một người được sinh ra từ tình yêu sự hiện hữu tập thể, và một khi được sinh ra người đó dính líu với định mệnh. Định mệnh thì không thể tách ra khỏi sự trở thành. Ước muốn là một cái gì riêng biệt khiến ông trở thành một con người với tất cả quá khứ và tương lai riêng tư của nó. Hãy nhìn một vĩ nhân nào đó, người đó thật phi thường làm sao! Nhưng cuộc đời của người đó cũng vô cùng rắc rối và những thành quả thì cũng giới hạn. Tính cách con người của con người thật tùy thuộc làm sao, và thế giới của người đó cũng thờ ơ là thế. Nhưng chúng ta yêu quí tính cách con người và bảo vệ nó vì chính sự tầm thường của nó.

H: Chiến tranh đang xảy ra và có không biết bao nhiêu hỗn loạn, nếu như ông được yêu cầu điều hành một trung tâm nuôi dưỡng nạn nhân. Ông được cung cấp tất cả những phương tiện cần thiết, vấn đề duy nhất là hoàn thành công việc. Liệu ông có từ chối một đề nghị như thế không?

M: Làm việc hay không làm việc là một và như nhau đối với Ta. Có thể Ta đảm nhận mà cũng có thể không. Có thể nhiều người khác có khả năng thích hợp cho những công việc như thế hơn Ta – chẳng hạn như những nhà cung cấp và phân phối thực phẩm chuyên nghiệp. Nhưng thái độ của Ta thì khác. Ta không xem chết như là một tai họa, cũng như Ta không vui mừng khi một đứa trẻ được sinh ra. Đứa trẻ được sinh ra để chuốc lấy phiền não còn người chết thoát khỏi phiền não. Ràng buộc với cuộc đời là ràng buộc với đau khổ. Chúng ta yêu quý cái đem lại cho chúng ta đau khổ. Bản chất của chúng ta là thế.

Đối với Ta lúc chết đi sẽ là lúc vui mừng, chứ không phải là lúc sợ hãi. Ta đã khóc khi sinh ra nhưng sẽ cười vui khi chết.

H: Khi chết sự thay đổi trong ý thức diễn ra thế nào?

M: Ông mong đợi một sự thay đổi nào? Khi buổi chiếu phim chấm dứt, tất cả sẽ như lúc bắt đầu. Trạng thái trước khi ông sinh ra cũng là trạng thái sau khi ông chết đi, nếu ông còn nhớ.

H: Tôi chẳng nhớ gì cả.

M: Vì ông không bao giờ thử. Đó chỉ là vấn đề điều chỉnh tâm. Dĩ nhiên là cần phải được tập luyện.

H: Vì sao ông không tham gia công tác xã hội?

M: Nhưng Ta có làm gì khác đâu! Công tác xã hội nào mà ông muốn Ta làm? Chắp vá không phải là việc của Ta. Quan điểm của Ta rất rõ ràng: Sản xuất để phân phối, cho người khác ăn trước khi mình ăn, cho trước khi nhận, nghĩ đến tha nhân trước khi nghĩ đến chính mình. Chỉ một xã hội vô vị kỷ, đặt nền tảng trên sự chia sẻ thì mới vững bền và hạnh phúc. Đó là giải pháp thực tiễn duy nhất. Nếu các ông không cần nó thì – chiến tranh.

H: Tất cả vấn đề là thuộc về các Gunas. Khi TamasRajas thắng thế, chiến tranh xảy ra. Khi Sattva trị vì, thế giới an lạc.

M: Ông muốn nói thế nào tùy ý, rốt cuộc thì cũng như nhau. Xã hội con người được xây dựng trên nhiều nguyên do. Đặt thiện chí vào nền tảng của xã hội thì các ông chẳng cần đến các nhân viên xã hội chuyên ngành.

H: Thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

M: Lẽ ra thế giới có thể luôn luôn tốt đẹp hơn, nhưng nó đã không thể. Hy vọng gì ở tương lai? Dĩ nhiên là xưa nay và sau này vẫn luôn luôn có những thời kỳ hài hòa và an lạc khi Sattva thăng tiến, nhưng mọi cái sẽ bị hủy diệt bởi sự toàn hảo của chính nó. Một xã hội toàn hảo thì nhất thiết phải dừng lại, và một sự bất động sẽ đưa đến trì trệ và thoái hóa. Từ tột đỉnh mọi con đường đêu đi xuống. Xã hội cũng như con người: Được sinh ra, phát triển đến một điểm nào đó tương đối hoàn hảo rồi băng hoại và chết đi.

H: Liệu có thể nào có sự toàn hảo tuyệt đối không bao giờ băng hoại?

M: Bất cứ gì có sự bắt đầu đều chấm dứt. Trong cái vô thời tất cả đều toàn hảo, tại đây và bây giờ.

H: Nhưng liệu chúng ta có thể đạt đến cái vô thời theo giòng thời gian?

M: Theo giòng thời gian chúng ta sẽ trở về điểm khởi đầu. Thời gian không thể đưa chúng ta ra khỏi thời gian, cũng như không gian không thể đem chúng ta ra khỏi không gian. Tất cả những gì ông có thể có được bằng sự chờ đợi là chờ đợi thêm. Hoàn toàn tuyệt đối là tại đây và bây giờ, chứ không phải trong một tương lai, dù xa hay gần. Bí quyết là ở trong hành động – tại đây và bây giờ. Chính thái độ của ông khiến ông không thấy chính ông. Từ bỏ bất cứ gì ông nghĩ ông là, và hành động như thể ông đã là toàn hảo tuyệt đối – dù ý tưởng về sự toàn hảo của ông là bất cứ gì. Tất cả ông cần là lòng can đảm.

H: Tôi tìm được sự can đảm đó ở đâu?

M: Dĩ nhiên là trong chính ông. Hãy nhìn vào bên trong.

H: Ân đức của ông có thể giúp  tôi.

M: Ân đức của Ta là nói với ông ngay bây giờ: Nhìn vào bên trong. Ông có tất cả những gì ông cần. Hãy sử dụng nó. Hành sử một cách tốt nhất mà ông biết, hãy làm những gì ông nghĩ ông phải làm. Đừng sợ phạm sai lầm vì ông luôn luôn có thể sửa sai, chỉ ý định mới quan trọng. Ông không thể quyết định sự việc xảy ra thế nào nhưng nguyên do của hành động hoàn toàn ở trong quyền năng của ông

H: Làm sao hành động phát sinh từ cái bất toàn hảo có thể đưa đến cái toàn hảo?

M: Hành động không đưa đến sự toàn hảo; sự toàn hảo được thể hiện trong hành động. Bao giờ ông còn phán xét chính ông bằng những thể hiện của ông thì hãy dành cho chúng tất cả chú ý; khi nhận ra sự hiện hữu của chính ông thì cách hành sử của ông sẽ toàn hảo – một cách tự sinh khởi.

H: Nếu tôi hoàn hảo phi thời gian, thế tại sao tôi lại được sinh ra? Mục đích của cuộc đời này là gì?

M: Câu ông hỏi cũng như: Cái gì làm lợi cho vàng khi được làm thành đồ trang sức? Đồ trang sức có được mầu sắc và cái đẹp của vàng, còn vàng không hề được làm cho giầu thêm. Tương tự như thế, thực tại được thể hiện trong hành động làm cho hành động có ý nghĩa và tốt đẹp.

H: Cái thật được gì qua những thể hiện của nó?

M: Cái thật có thể được gì? Chẳng được gì cả. Chính bản chất của tình yêu là thể hiện chính nó, khẳng định chính nó, và vượt qua mọi khó khăn. Một khi đã hiểu được rằng thế giới là tình yêu trong hành động, ông sẽ nhìn nó hoàn toàn khác. Nhưng trước tiên thái độ của ông đối với đau khổ phải thay đổi. Trước tiên đau khổ kêu gọi sự chú ý, mà chính sự chú ý là một động thái của tình yêu. Còn hơn cả hạnh phúc, tình yêu muốn sự phát triển, khơi sâu và mở rộng ý thức và sự hiện hữu. Bất cứ gì ngăn trở đều trở thành một nguyên nhân của đau khổ, và tình yêu thì không trốn tránh đau khổ. Không được ngăn trở Sattva – nguồn năng lượng hoạt động cho sự công bằng và phát triển một cách trật tự. Khi bị ngăn trở nó sẽ quay ngược lại với chính nó và trở nên phá hoại. Khi nào tình yêu bị kiềm hãm và đau khổ được phép hoành hành thì chiến tranh là bất khả tránh. Sự thờ ơ của chúng ta với nỗi đau khổ của người láng giềng sẽ đem đau khổ đến ngay ngưỡng cửa của chúng ta.

❁ ❁ ❁

83. Chân sư

Hỏi: Hôm nọ ông nói rằng nguồn gốc sự giác ngộ của ông là tín tâm đối với Tôn sư. Ngài cam đoan với ông rằng ông đã là Thực tại Tối thượng và chẳng cần làm gì nữa. Ông tin tưởng Tôn sư và cứ giữ nguyên như thế, không cần phải căng thẳng hay phấn đấu. Câu hỏi của tôi là: Nếu không đặt tín tâm vào Tôn sư, liệu ông đã có thể giác ngộ? Xét cho cùng, ông là cái ông là dù tâm ông có tin Tôn sư hay không; liệu sự nghi hoặc có ngăn trở sự thực hành lời dạy của Tôn sư, và làm cho lời dạy của Tôn sư không còn ứng nghiệm?

Maharaj: Đúng thế – có thể lời dạy của Tôn sư đã không ứng nghiệm – trong một thời gian.

H: Thế chuyện gì xảy ra cho năng lượng, hay sức mạnh trong lời dạy của Tôn sư?

M: Nó vẫn ở tình trạng tiềm ẩn, không thị hiện. Nhưng toàn thể câu hỏi dựa trên một sự hiểu biết sai lầm. Vị Đạo sư, người môn đồ, tình yêu và sự tin tưởng giữa hai người – tất cả là một sự kiện duy nhất, chứ không phải là một sự kiện độc lập. Mỗi một cái là thành phần của cái kia. Nếu không có tình yêu và sự tin tưởng thì không thể có Đạo sư hay môn đồ, và cũng không có liên hệ nào giữa hai người. Điều này cũng giống như bấm vào một cái nút để bật sáng một bóng đèn điện. Nhờ có bóng đèn, dây điện, công tắc, bộ biến thế, dây truyền điện và nhà máy phát điện – tất cả tạo thành một thực thể duy nhất – mà ông có được ánh sáng. Nếu vắng thiếu bất cứ một trong những yếu tố nào đó thì không thể có ánh sáng. Ông không được phân chia cái bất khả phân chia. Ngôn từ không thể tạo thành sự kiện; ngôn từ chỉ có thể mô tả hay xuyên tạc sự kiện. Sự kiện thì luôn luôn vô ngôn.

H: Tôi vẫn không hiểu; liệu lời dạy của Tôn sư có thể vẫn không được thực hiện, hay chắc chắn sẽ chứng minh là đúng thật?

M: Lời dạy của một người giác ngộ không bao giờ sai lạc mục đích. Lời dạy ấy đợi đúng điều kiện sẽ thành hình, có thể là phải chờ một thời gian mà điều này thì rất tự nhiên, vì phải có mùa gieo mạ và mùa gặt hái. Nhưng lời dạy của một Đạo sư là một hạt giống bất khả hư hoại. Dĩ nhiên vị Đạo sư phải là một chân sư, tức là người đã vượt ra khỏi thân, tâm, ở ngoài chính ý thức, siêu vượt thời gian và không gian, siêu vượt cả nhị nguyên và hợp nhất, ở ngoài sự hiểu biết và mô tả. Những bậc thiện tri thức là những người đọc nhiều và có nhiều điều để nói, họ có thể dạy ông rất nhiều điều hữu ích, nhưng không phải là chân sư mà lời dạy chắc chắn trở thành sự thật. Những bậc thiện tri thức cũng có thể bảo ông là chính thực tại tối hậu, nhưng điều đó có thể làm được gì?

H: Tuy nhiên, nếu vì một lý do nào đó tôi tình cờ tin tưởng họ và làm theo, liệu tôi có phải là người thua thiệt?

M: Nếu ông có thể tin tưởng và quy thuận thì thế nào ông cũng gặp chân sư, hay, đúng hơn là chân sư sẽ tìm ông.

H: Liệu người nào biết cái Ta đều có thể trở thành Đạo sư, hay một người có thể là Người Biết Thực Tại nhưng không thể đưa người khác đến với Thực tại?

M: Nếu ông biết cái ông dạy, ông có thể dạy cái ông biết. Ở đây thấy và dạy là một. Nhưng Thực tại Tuyệt đối thì ở ngoài cả thấy và dạy. Những người tự xưng là Đạo sư nói về sự chín mùi và tinh tấn, về công phu và chứng đắc, về định mệnh và ân đức – tất cả những thứ đó chỉ là những dựng lập của tâm, những phóng ảnh của một cái tâm si mê. Thay vì giúp ích, chúng chỉ gây chướng ngại.

H: Làm sao tôi có thể phân biệt người nào để đi theo và người nào để nghi ngờ?

M: Nghi ngờ tất cả cho đến khi ông tin. Chân sư không bao giờ sỉ nhục ông, và cũng không bao giờ ly gián ông với chính ông. Chân sư luôn luôn đem ông trở lại với thực tế về sự toàn hảo hằng hữu của ông, và khuyến khích ông tìm kiếm bên trong. Chân sư biết ông chẳng cần gì cả, ngay cả chính ông ta, và không bao giờ mệt mỏi trong sự nhắc nhở ông. Còn người tự xưng là Đạo sư thì quan tâm đến chính mình hơn là quan tâm đến môn đồ.

H: Ông bảo rằng Thực tại ở ngoài hiểu biết và sự chỉ giáo về cái thật. Thế không phải hiểu biết về Thực tại chính nó là tối thượng và sự chỉ giáo là bằng chứng về sự hiểu biết đó?

M: Hiểu biết về cái thật, hay cái Ta, là một trạng thái của tâm. Chỉ dạy một người khác là một động thái trong nhị nguyên. Chúng chỉ liên quan đến tâm mà thôi; Sattva thì cũng là một Guna.

H: Thế cái gì là thật?

M: Người biết tâm là không nhận biết được và nhận biết được, người biết vô minh và cái biết là các trạng thái của tâm – thì người đó là thật. Khi được cho một nắm kim cương trộn lẫn với sỏi, thì hoặc là ông không tìm thấy kim cương, hoặc là ông tìm thấy kim cương. Chính khả năng thấy mới quan trọng. Mầu xám của sỏi và vẻ đẹp của kim cương ở đâu nếu không có khả năng thấy? Cái bị biết chỉ là một hình tướng, cái biết chỉ là một danh xưng, và người biết chỉ là một tướng trạng của tâm. Cái thật ở ngoài tất cả.

H: Chắc chắn cái biết khách quan, ý tưởng về sự vật, và biết chính mình không phải là một và như nhau. Một cái cần đến não bộ, và cái kia thì không.

M: Để hý luận ông có thể sắp xếp ngôn từ và gán cho chúng ý nghĩa, nhưng sự thật vẫn là: Tất cả mọi cái biết chỉ là một hình thức của vô minh. Một tấm bản đồ chính xác chỉ là một tờ giấy. Tất cả cái biết đều ở trong ký ức; đó chỉ là sự nhận biết qua hồi tưởng, còn thực tại ở ngoài tính nhị nguyên – người biết và cái bị biết.

H: Thế thực tại được biết bằng cái gì?

M: Ngôn ngữ của ông mới thật sai lầm làm sao! Ông giả định một cách vô thức rằng thực tại cũng có thể tiếp cận được qua cái biết. Và ông đem vào một người biết thực tại ở ngoài thực tại! Nên hiểu rằng thực tại không cần được biết để . Vô minh và cái biết ở trong tâm, chứ không phải ở trong cái thật.

H: Nếu không có cái như là biết cái thật, thì làm sao tôi đạt đến cái thật?

M: Ông không phải vươn ra để tìm kiếm cái đã sẵn có với ông. Chính sự vươn ra ngoài tìm kiếm khiến ông không thấy được nó. Hãy từ bỏ cái ý tưởng ông chưa tìm thấy nó, mà cứ để nó xuất hiện trong tiêu điểm của nhận thức trực tiếp, ở đây và bây giờ, bằng cách loại bỏ những gì thuộc về tâm.

H: Khi tất cả những gì có thể ra đi – ra đi. Cái gì còn lại?

M: Cái trống không còn lại, tánh biết còn lại, ánh sáng thanh tịnh của sự hiện hữu hữu thức còn lại. Câu ông hỏi cũng giống như cái gì còn lại trong phòng khi tất cả đồ đạc được dọn đi. Một căn phòng sẵn sàng để sử dụng còn lại. Và thậm chí khi tất cả các vách tường bị phá sập thì không gian còn lại. Bên ngoài không gian và thời gian là cái ở đây và cái bây giờ của thực tại.

H: Thế nhân chứng có còn không?

M: Khi nào còn ý thức thì nhân chứng của nó còn đó. Hai cái cùng xuất hiện và cùng biến mất.

H: Nếu nhân chứng cũng vô thường thì tại sao nói lại quan trọng đến thế?

M: Chỉ để phá vỡ sự mê hoặc của cái bị biết, tức là ảo tưởng cho rằng chỉ những gì nhận thức được là thật.

H: Nhận thức là chính yếu, nhân chứng là thứ yếu.

M: Đây chính là trọng tâm của vấn đề. Bao giờ ông còn tin rằng thế giới ngoại quan là thật thì ông còn là nô lệ của nó. Để tự do, ông phải dồn hết chú ý cho cái “Ta hiện hữu”, cho nhân chứng. Dĩ nhiên, người biết và cái bị biết là một chứ không phải hai, nhưng để phá vỡ tính mê hoặc của cái bị biết, người biết phải trở nên nổi bật. Không có cái nào là chính yếu trong hai cái, cả hai đều là ảnh phản chiếu trong ký ức của một kinh nghiệm bất khả diễn tả, luôn luôn mới và luôn luôn hiện tại, không thể diễn dịch được, và nhanh hơn cả tâm.

H: Thưa ông, tôi chỉ là một kẻ đi tìm chân lý hèn mọn, gặp hết Đạo sư này đến Đạo sư khác với hy vọng được giải thoát. Tâm tôi đang đau ốm, hừng hực với tham ái, tê cóng vì sợ hãi. Ngày tháng trôi qua, rực đỏ với đau khổ, xám ngắt với nhàm chán. Tuổi già đang đến, sức khỏe sa sút, tương lai thì đen tối và hãi hùng. Cứ theo cái đà này chắc tôi chỉ sống trong đau khổ và chết trong tuyệt vọng. Liệu còn hy vọng nào cho tôi? Hay là tôi đến gặp ông đã quá trễ?

M: Chẳng có gì sai lầm với ông cả, nhưng những ý nghĩ mà ông có về chính ông thì hoàn toàn sai lầm. Không phải ông là kẻ tham ái, sợ hãi, đau khổ mà là con người được dựng lập trên nền tảng thân xác ông, bởi hoàn cảnh và những ảnh hưởng khác nhau. Ông không phải con người đó. Điều này phải được xác lập một cách rõ ràng trong tâm ông và không bao giờ có thể bị mất dấu. Thông thường, nó cần một sự tu tập lâu dài, nhiều năm khổ hạnh và thiền quán.

H: Tâm tôi nhu nhược và giao động. Tôi không có nghị lực và kiên nhẫn để tu tập. Trường hợp của tôi thật vô vọng.

M: Về một phương diện trường hợp của ông là triển vọng nhất. Có phương cách thay thế cho tu tập, đó là tín tâm. Nếu ông không thể tin vào một sự tìm kiếm có kết quả, thì hãy vận dụng sự khám phá của Ta và Ta sẵn sàng chia sẻ với ông. Ta có thể thấy rất rõ ràng là ông chưa hề bao giờ, cũng như không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thực tại hắt hủi; ông là tính viên mãn của sự toàn hảo ở đây và bây giờ; không gì có thể tước đoạt di sản của ông, của cái mà ông là. Không thể nào ông khác biệt với Ta, chỉ có điều là ông không biết như thế. Ông không biết cái ông là nên tưởng tượng ông là cái mà ông không phải. Vì thế ông bị tham ái, lo sợ và tuyệt vọng đè bẹp, rồi ông tìm cách trốn chạy bằng những hành động vô nghĩa.

Hãy tin Ta và sống bằng cách tin Ta. Không đời nào Ta lừa dối ông. Ông là Thực tại Tối thượng bên ngoài thế giới và người sáng tạo ra thế giới, ông ở bên ngoài ý thức và nhân chứng của ý thức, bên ngoài tất cả những xác định và phủ định. Hãy nhớ điều đó, suy nghĩ về điều đó và hành động dựa trên điều đó. Từ bỏ tất cả những ý thức phân chia, thấy chính ông trong tất cả và hành động một cách tương ứng. Cùng với hành động an lạc sẽ đến, và cùng với an lạc là sự tin tưởng. Xét cho cùng, ông hoài nghi chính ông vì ông đau khổ. Hạnh phúc tự nhiên, tự sinh khởi và lâu dài thì không thể tưởng tượng mà có. Hoặc là nó có đó, hoặc là nó không có. Một khi ông bắt đầu trải qua sự an lạc, tình yêu và hạnh phúc – mà không cần những nguyên nhân bên ngoài thì mọi nghi hoặc của ông sẽ biến mất. Hãy nắm chắc những gì Ta vừa nói với ông và sống với nó.

H: Ông bảo tôi sống bằng ký ức?

M: Dù sao thì ông vẫn sống bằng ký ức. Ta chỉ yêu cầu ông thay thế những ký ức cũ bằng ký ức về những gì Ta đã nói với ông. Trước kia ông hành động dựa theo ký ức cũ như thế nào thì ông sẽ hành động như thế dựa theo ký ức mới. Đừng sợ. Chắc chắn là sẽ có xung đột giữa cái cũ và cái mới trong một thời gian nào đó, nhưng nếu quyết tâm đặt mình về phía cái mới thì sự xung đột sẽ sớm kết thúc, và ông sẽ nhận ra trạng thái là chính mình mà không cần cố gắng, không bị lừa dối bởi tham ái và lo sợ phát sinh từ ảo tưởng.

H: Rất nhiều Đạo sư có thói quen cho những biểu tượng ân đức của mình – chẳng hạn như khăn trùm đầu, gậy, hay y bát để trao truyền hay xác nhận sự giác ngộ của môn đồ. Tôi chẳng thấy giá trị nào trong những tập quán như thế vì cái được trao truyền không phải là sự giác ngộ, mà chỉ là sự quan trọng hóa cái Ta. Được nghe một sự tâng bốc mà không thật thì có ích lợi gì? Một mặt ông cảnh giác tôi về vô số những kẻ tự phong là Đạo sư, nhưng một mặt ông lại muốn tôi tin ông. Tại sao ông lại cho mình là một ngoại lệ?

M: Ta không bảo ông tin Ta. Hãy tin và nhớ lời Ta nói, Ta muốn hạnh phúc cho ông, chứ không phải cho Ta. Đừng tin bất cứ kẻ nào tạo ra một khoảng cách giữa ông và sự hiện hữu chơn thật của ông, và ngỏ ý làm người trung gian. Ta không làm những chuyện như thế. Thậm chí Ta cũng không đưa ra bất cứ hứa hẹn nào. Ta chỉ nói: Nếu ông tin lời Ta nói, và thử nghiệm chúng thì chính ông sẽ nhận ra những lời Ta nói là tuyệt đối chơn thật như thế nào. Nếu ông đòi hỏi một bằng chứng trước khi dấn thân thì Ta chỉ có thể bảo ông: Ta là bằng chứng. Ta là Tôn sư và giữ chúng trong tâm. Ta đã nhận ra Tôn sư hoàn toàn đúng và Ta đã là, đang là và sẽ là Thực tại Vô biên, bao trùm tất cả và siêu vượt tất cả.

Như ông nói ông không có thời gian mà cũng chẳng có công sức cho những sự tu tập lâu dài. Ta đề nghị với ông một giải pháp thay thế. Hãy chấp nhận lời Ta nói dựa vào tín tâm và sống một lối sống mới, hay là ông sống và chết trong đau khổ.

H: Những gì ông nói thì quá tốt đẹp để có thể thành sự thật.

M: Đừng ngộ nhận tính đơn giản của sự chỉ dẫn. Rất ít người có can đảm để tin vào sự hồn nhiên và đơn giản. Biết được ông bị tâm giam hãm, ông sống trong một thế giới tưởng tượng do chính ông tạo ra – là sự hé mở của trí tuệ. Không mong cầu ở trí tuệ bất cứ gì, sẵn sàng từ bỏ nó hoàn toàn – là thành khẩn. Chỉ có sự thành khẩn như thế – phát sinh từ nỗi tuyệt vọng thật sự – mới làm cho ông tin Ta.

H: Tôi chưa nếm đủ mùi đau khổ hay sao?

M: Đau khổ đã làm cho ông u mê, không thấy được sự tàn ác của nó. Công việc trước tiên của ông là thấy sự đau khổ trong ông, và xung quanh ông; tiếp đến là ông mong muốn giải thoát một cách mãnh liệt. Chính tính mãnh liệt của lòng mong muốn sẽ hướng dẫn ông; ông chẳng cần ai khác hướng dẫn.

H: Đau khổ đã làm cho tôi u mê, thờ ơ ngay cả với chính đau khổ.

M: Có lẽ không phải đau khổ mà lạc thú đã làm cho ông u mê. Hãy tìm hiểu.

H: Dù nguyên nhân là gì, tôi vẫn u mê. Tôi không có ý chí mà cũng chẳng có năng lực.

M: Ồ, không. Ông có đủ tất cả cho bước đầu tiên. Và mỗi bước lại phát sinh năng lực cho bước kế tiếp. Năng lực đến với sự tin tưởng, và tin tưởng đến với kinh nghiệm.

H: Thay đổi Đạo sư có phải là điều nên làm?

M: Tại sao lại không thay đổi? Đạo sư cũng như những dấu mốc. Di chuyển từ dấu mốc này đến dấu mốc khác là tự nhiên. Mỗi dấu mốc cho ông biết hướng đi và khoảng cách, còn Sadguru – Đạo sư vĩnh cửu –  chính là con đường. Một khi nhận ra con đường là mục đích, và ông luôn luôn trên con đường, không phải để đến đích, mà để thưởng thức cái đẹp và trí tuệ của nó thì sống không còn là một nhiệm vụ mà trở nên tự nhiên và giản dị, và trong chính nó là cực lạc.

H: Như thế chẳng cần đến thờ cúng, cầu nguyện và thực hành Yoga?

M: Mỗi ngày một chút quét dọn, tắm, giặt thì chẳng hại gì. Sự biết rõ chính mình cho ông biết từng bước cần phải làm gì. Khi tất cả được làm xong thì tâm tĩnh lặng.

Bây giờ ông đang ở trong trạng thái thức, một con người với danh xưng và hình tướng, vui sướng và đau khổ. Con người không có trước khi ông sinh ra, và cũng không có sau khi ông chết đi. Thay vì đấu tranh với con người để biến nó thành cái mà nó không phải thì tại sao không thoát ra ngoài trạng thái thức và hoàn toàn mặc kệ cuộc sống có tính cách con người? Điều này không có nghĩa là tiêu diệt con người, mà chỉ có nghĩa là thấy con người trong một bối cảnh đúng.

H: Còn một câu hỏi nữa. Ông bảo rằng trước khi được sinh ra tôi đã là một với hiện hữu thuần túy của thực tại; nếu vậy, ai quyết định tôi đã phải sinh ra?

M: Trong thực tại ông chưa bao giờ được sinh ra và sẽ không bao giờ chết đi. Nhưng hiện nay ông tưởng tượng ông là một thân xác, hay có một thân xác, và ông hỏi cái gì đã đem lại trạng thái này. Trong phạm vi của ảo tưởng, câu trả lời là: tham ái sinh khởi từ ký ức thu hút sự chú ý của ông về một thân xác và khiến ông nghĩ ông là một với thân xác. Nhưng điều này chỉ đúng từ cái nhìn tương đối. Thật ra, không hề có thân xác mà cũng chẳng có thế giới dung chứa nó; chỉ có một điều kiện của tâm, một trạng thái như chiêm bao, rất dễ dàng biến mất khi bị chất vấn về thực thể của nó.

H: Sau khi ông chết đi, liệu ông sẽ trở lại? Nếu tôi sống lâu thì liệu tôi sẽ gặp ông?

M: Đối với ông thân xác là thật, còn đối với Ta thân xác không có. Ta – như ông thấy Ta –  chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của ông. Chắc chắn ông sẽ gặp lại Ta, nếu ông cần đến Ta và khi ông cần đến Ta. Điều đó không hề tác động đến Ta, cũng như mặt trời không hề bị tác động bởi bình minh và hoàng hôn. Vì nó không hề bị tác động nên chắc chắn nó luôn luôn có đó khi cần đến.

Ông cứ khăng khăng với cái biết, còn Ta thì không. Ta không có cảm giác bất an mà cảm giác đó khiến ông khao khát muốn biết. Ta tò mò, như một đứa trẻ tò mò, nhưng không có sự lo sợ nào khiến Ta phải tìm sự an trú trong cái biết. Do đó, Ta không bận tâm liệu Ta sẽ tái sinh nữa hay không, hoặc thế giới sẽ tồn tại bao lâu. Những câu hỏi như thế sinh khởi từ sợ hãi.

❁ ❁ ❁

84. Mục đích của ông là Đạo sư của ông

Hỏi: Có lần ông nói với chúng tôi rằng Đạo sư tự phong thì rất nhiều, còn một chân sư thì rất hiếm. Có rất nhiều Gnani tưởng tượng chính họ đã giác ngộ, nhưng tất cả những gì họ có là kiến thức kinh điển và tự đánh giá cao về chính mình. Nhiều khi họ tìm cách gây ấn tượng, thậm chí là mê hoặc, thu hút môn đồ và làm cho những người theo họ mất thời gian trong những phép tu tập vô ích. Sau một vài năm, khi kiểm điểm lại chính mình người môn đồ chẳng thấy có sự thay đổi nào. Kho họ than phiền với Đạo sư thì bị quở là đã không tinh tấn đúng mức. Sự chê trách được đổ cho là thiếu tín tâm và tình yêu trong trái tim của người môn đồ. Trong thực tế, người đáng trách lại là Đạo sư, vì Đạo sư như thế không có quyền thu nhận, và làm cho môn đồ nuôi hy vọng. Làm sao tôi có thể bảo vệ mình trước những Đạo sư như thế?

Maharaj: Vì sao lại bận tâm với người khác? Dù Đạo sư là ai, nhưng nếu có một trái tim tinh khiết và hành động theo sự tin tưởng tốt đẹp thì Đạo sư không bao giờ làm hại môn đồ của mình. Nếu không tiến bộ, lỗi thuộc về môn đồ do sự lười biếng và thiếu tự chủ. Trái lại, nếu thành khẩn, ứng dụng bản thân một cách khôn ngoan, và nhiệt tình với phép tu tập thì chắc chắn người môn đồ sẽ gặp một Đạo sư tài giỏi hơn để hướng dẫn mình đi xa hơn. Câu hỏi của ông phát sinh từ ba giả định sai lầm: Một người cần phải bận tâm với người khác, một người có thể đánh giá người khác, và sự tiến bộ của môn đồ là công việc và trách nhiệm của Đạo sư. Trong thực tế, vai trò của Đạo sư là chỉ dạy và khuyến khích; người môn đồ hoàn toàn có trách nhiệm với chính mình.

H: Chúng tôi được bảo rằng hoàn toàn quy thuận Đạo sư là đủ, Đạo sư sẽ lo tất cả những gì còn lại.

M: Dĩ nhiên, khi có sự hoàn toàn quy thuận, hoàn toàn từ bỏ tất cả những lo âu với quá khứ, hiện tại và tương lai, cùng sự an toàn và địa vị vật chất và tâm linh thì một cuộc sống mới bắt đầu ló dạng, đầy tình yêu và cái đẹp; lúc đó Đạo sư không còn quan trọng, vì người môn đồ đã phá vỡ lớp bảo vệ cái Ta. Hoàn toàn quy thuận chính mình là giải thoát.

H: Khi cả môn đồ lẫn Đạo sư không tương hợp với nhau, chuyện gì xảy ra?

M: Về lâu dài thì tất cả sẽ tốt đẹp. Xét cho cùng, cái Ta thật của hai người không hề bị tác động bởi vở hài kịch mà họ đóng trong một giai đoạn nào đó. Cả hai sẽ điều tiết và chín mùi, rồi chuyển sang một mức độ cao hơn trong quan hệ.

H: Hay là họ chia tay.

M: Đúng, họ có thể chia tay. Xét cho cùng không quan hệ nào là mãi mãi. Nhị nguyên là một trạng thái nhất thời.

H: Như vậy có phải là tình cờ tôi gặp ông, và một sự tình cờ khác chúng ta sẽ chia tay và không bao giờ gặp lại? Hay việc tôi gặp ông là một phần của mô thức vũ trụ nào đó, một đoạn trong vở trường kịch của cuộc đời chúng ta?

M: Cái thật thì đầy ý nghĩa và cái đầy ý nghĩa thì liên quan đến thực tại. Nếu sự quan hệ giữa ông và Ta có ý nghĩa cho cả hai thì nó không phải tình cờ. Tương lai ảnh hưởng đến hiện tại cũng nhiều như quá khứ.

H: Làm sao tôi phân biệt ai là bậc thánh nhân đích thực, và ai không?

M: Ông không thể, trừ khi ông có một cái nhìn thấu suốt tim người. Tướng mạo bề ngoài dễ làm cho người ta lầm lẫn. Để nhìn thấu suốt, tâm ông phải thanh tịnh và vô tư. Nếu ông không biết rõ chính ông thì làm sao ông có thể biết rõ người khác? Và khi ông biết chính ông – ông người khác.

Cứ mặc kệ tha nhân trong một thời gian và tìm hiểu chính ông. Có rất nhiều điều ông không biết về chính ông – ông là cái gì, ông là ai, vì sao ông lại được sinh ra, ông đang làm gì và tại sao ông làm như thế, ông đang đi đâu, ý nghĩa và mục đích của sự sống, cái chết và tương lai của ông là gì? Liệu ông có một quá khứ, liệu ông có một tương lai? Cái gì đã khiến ông sống trong rối loạn và đau khổ, trong khi toàn thể hiện hữu của ông phấn đấu để được hạnh phúc và an lạc? Đó là những vấn đề quan trọng và cần phải chú ý trước. Ông không cần, cũng như không có thời gian để tìm ra ái là người giác ngộ và ai không.

H: Nhưng tôi phải chọn đúng chân sư.

M: Hãy là một con người chân chính và chân sư chắc chắn sẽ tìm ra ông.

H: Ông không trả lời câu hỏi của tôi: Làm thế nào để tìm đúng một chân sư?

M: Ta đã trả lời câu hỏi của ông rồi. Đừng tìm kiếm Đạo sư, thậm chí đừng nghĩ đến một Đạo sư. Biến mục đích của ông thành Đạo sư của chính ông. Xét cho cùng, Đạo sư chỉ là một phương tiện để đạt đến cứu cánh, mà không phải là chính cứu cánh. Đạo sư không quan trọng, chính những gì ông mong đợi ở Đạo sư mới quan trọng đối với ông. Sao, ông mong đợi điều gì?

H: Nhờ ân đức của Đạo sư tôi sẽ được làm cho hạnh phúc, đầy quyền năng và an lạc.

M: Thật là những tham vọng kỳ quặc! Làm sao một con người hữu hạn trong thời gian và không gian, chỉ là một thân-tâm, một tiếng thở dài đau đớn giữa sinh và tử lại có thể hạnh phúc? Chính những điều kiện sinh thành ra nó làm cho hạnh phúc hoàn toàn không thể có được. An lạc, quyền năng, hạnh phúc không bao giờ là những trạng thái thuộc về con người; không ai có thể nói “sự an lạc của ta”, “quyền năng của ta” vì “của ta” hàm ý một sự độc quyền, một cái gì mong manh và bất trắc.

H: Tôi chỉ biết sự tồn tại bị điều kiện hóa của tôi; ngoài ra không còn gì khác.

M: Chắc chắn là ông không thể nói như thế. Trong giấc ngủ say ông không hề bị điều kiện hóa. Càng sẵn sàng và dễ ngủ thì ông càng an lạc, thảnh thơi và hạnh phúc trong giấc ngủ!

H: Tôi không biết gì về điều đó.

M: Nói ngược lại. Khi ngủ ông không đau khổ, không bị ràng buộc, mà cũng không bất an.

H: Tôi hiểu được điều ông muốn nói. Khi thức tôi biết tôi hiện hữu, nhưng tôi không hạnh phúc. Khi ngủ, tôi hiện hữu, tôi hạnh phúc nhưng tôi không biết tôi hạnh phúc. Tất cả  những gì tôi cần là: Biết tôi tự do và hạnh phúc.

M: Đúng thế. Bây giờ, hãy đi vào trong ông, đến một trạng thái mà ông có thể ví như một trạng thái ngủ-thức; trong trạng thái đó ông biết rõ chính ông, nhưng không biết thế giới. Trong trạng thái đó ông sẽ biết – không một chút nghi hoặc – rằng ở tận căn nguyên hiện hữu của ông, ông tự do và hạnh phúc. Vấn đề duy nhất là ông quá say mê kinh nghiệm, và ông yêu quý ký ức của ông. Trong thực tại thì ngược lại: Cái được ghi nhớ không bao giờ là thật; cái thật là bây giờ.

H: Tôi nắm bắt những điều ông nói về mặt ngôn từ, nhưng nó không trở thành một phần của chính tôi. Nó vẫn còn là một bức tranh trong tâm để được nhìn ngắm. Thế không phải nhiệm vụ của Đạo sư là làm cho bức tranh sống động?

M: Một lần nữa, ngược lại thì mới đúng. Bức tranh thì sống động còn tâm mới khô chết. Vì tâm được tạo ra bằng ngôn từ và hình ảnh, nên mọi hình ảnh phản chiếu trong tâm cũng khô chết. Tâm che lấp thực tại bằng tiến trình ngôn từ hóa rồi chính tâm oán trách. Ông bảo cần phải có Đạo sư để làm phép lạ cho ông. Ông chỉ đùa giỡn với chữ nghĩa. Cũng như cây nến và ngọn lửa của cây nến, Đạo sư và môn đồ chỉ là một duy nhất. Nếu người môn đồ không thành khẩn thì không thể gọi là môn đồ. Nếu Đạo sư không hoàn toàn yêu thương và quên mình thì không thể gọi là Đạo sư. Chỉ Thực tại mới sinh ra cái thật, chứ không phải cái hư giả.

H: Tôi có thể thấy tôi hư giả. Ai sẽ làm cho tôi thành thật?

M: Chính những lời lẽ mà ông vừa nói sẽ làm chuyện đó. Câu: “Tôi có thể thấy tôi hư giả” chứa đựng tất cả những gì ông cần để giải thoát. Hãy tư duy về câu đó, vào sâu trong đó, đến tận căn nguyên của nó; nó sẽ hiện hành. Sức mạnh ở trong ngôn từ, chứ không ở trong con người.

H: Tôi không hiểu ông trọn vẹn. Lúc thì ông bảo Đạo sư là cần thiết, lúc thì ông bảo Đạo sư chỉ có thể hướng dẫn, còn nỗ lực là của tôi. Xin vui lòng nói rõ: Liệu một người có thể giác ngộ cái Ta mà không cần đến Đạo sư, hay tìm kiếm một chân sư là thiết yếu?

M: Thiết yếu hơn cả vẫn là tìm được một môn đồ đích thực. Cứ tin Ta đi, một môn đồ đích thực thì thật hi hữu, vì người đó – bằng sự tìm kiếm cái Ta của chính mình – không bao giờ vượt quá sự cần thiết phải có một Đạo sư. Đừng phí thời gian tìm cách phân biệt xem sự chỉ dẫn mà ông nhận được xuất phát từ hiểu biết suông, hay từ kinh nghiệm có giá trị? Cứ thành tín tuân hành. Cuộc đời sẽ đem cho ông một Đạo sư khác nếu cần, hoặc lấy đi của ông tất cả những hướng dẫn bên ngoài, để lại ông với ánh sáng của chính ông. Điều quan trọng phải hiểu được rằng chính sự chỉ giáo mới quan trọng, chứ không phải con người của Đạo sư. Ông nhận được một lá thư làm cho ông cười hay khóc. Người làm cho ông khóc hay cười chắc chắn không phải là người đưa thư. Đạo sư chỉ thông báo cho ông tin lành về cái Ta chơn thật của ông và chỉ cho ông con đường trở lại với cái Ta. Về một phương diện, Đạo sư chỉ là một người chuyển giao cho ông một thông điệp. Có rất nhiều người chuyển giao, còn thông điệp chỉ có một: “Hãy là cái ông là”, hay có thể nói theo một cách khác: “Chỉ đến khi giác ngộ ông mới biết được ai là Đạo sư đích thực của ông”. Sự giác ngộ của ông chứng tỏ Đạo sư của ông là chân sư. Vì vậy, Đạo sư như thế nào thì cứ xem Đạo sư như vậy, hãy làm những gì Đạo sư bảo, với tất cả lòng thành khẩn, nhiệt tình, và tin tưởng trái tim của ông sẽ báo cho ông biết nếu có điều gì không đúng. Nếu nghi ngờ sinh khởi, đừng chống lại nó. Cứ bám chặt lấy cái chắc chắn và bỏ qua cái gì không biết chắc.

H: Tôi có một Đạo sư mà tôi rất quý mến, nhưng tôi không biết ông ấy có phải là một chân sư hay không?

M: Quan sát chính ông. Nếu ông thấy chính mình thay đổi, trưởng thành thì có nghĩa ông đã tìm được đúng người. Người đó có thể đẹp hay xấu, vui vẻ hay không vui vẻ, khen ngợi hay la rầy ông – đều không quan trọng, ngoại trừ điều cốt yếu duy nhất: Trưởng thành nội tâm. Nếu ông không trưởng thành về nội tâm thì người đó có thể là bạn ông, nhưng không phải Đạo sư của ông.

H: Khi nói chuyện với một người Âu châu có đôi chút học thức về một Đạo sư và những gì Đạo sư chỉ dạy, phản ứng của người Âu châu đó là: “Chỉ có kẻ điên rồ mới dạy những điều vô lý như thế”. Tôi phải nói gì với người đó?

M: Đưa ông ta trở về với chính mình. Chỉ cho ông ta thấy rằng ông ta biết rất ít về chính mình; ông ta xem những phát biểu ngớ ngẩn nhất về chính mình là chân lý thiêng liêng. Ông ta được nói cho biết mình là một thân xác, đã được sinh ra, sẽ chết đi, có cha mẹ, có bổn phận, ông ta phải học cách thích cái gì người khác thích và sợ những gì người khác sợ. Hoàn toàn là một sinh vật của tính di truyền và được xã hội nặn đúc ra, ông ta sống bằng ký ức và hành động theo thói quen. Vô minh về chính mình và hoàn toàn không biết đến lợi ích đích thực của chính mình, ông ta theo đuổi những mục đích sai lầm và luôn luôn thất vọng. Cuộc sống và cái chết của ông ta vô nghĩa mà hình như không có lối thoát. Rồi cho ông ta biết có một con đường thoát ra, dễ dàng và ngay trong tầm với – không phải chuyển sang một hệ tư tưởng khác, mà là giải thoát khỏi tất cả mọi tư tưởng và mô thức của cuộc sống. Đừng nói với ông ta về Đạo sư và môn đồ – lối tư duy này không dành cho ông ta. Lối tư duy của ông ta là: Con đường bên trong, ông ta được tác động bởi sự thôi thúc bên trong và được hướng dẫn bởi ánh sáng bên trong. Hãy khuyến khích ông ta nổi loạn và ông ta sẽ hưởng ứng. Đừng tìm cách gây ấn tượng với ông ta về một người giác ngộ nào đó và có thể tôn làm Đạo sư. Nếu ông ta không tin chính mình thì không thể nào ông ta tin người khác. Sự tin tưởng sẽ đến cùng kinh nghiệm.

H: Lạ nhỉ! Tôi không thể tưởng tượng ra cuộc đời mà không có một Đạo sư.

M: Đó chỉ là vấn đề tính khí. Mà cả ông cũng đúng. Đối với ông xứng hát những lời ca tụng Thượng đế là đủ. Ông chẳng cần mong cầu giải thoát, mà cũng chẳng cần đến tu tập một pháp môn nào. Danh xưng của Thượng đế là tất cả thức ăn mà ông cần. Hãy sống bằng thức ăn đó.

H: Thường xuyên lải nhải một vài tiếng gì đó, không phải là điên hay sao?

M: Đúng là điên, nhưng là điên có chủ đích. Tất cả những sự lập đi lập lại là Tamas, nhưng lập lại danh xưng của Thượng đế là Sattva-Tamas bởi mục đích cao thượng của nó. Vì có sự hiện diện của Sattva nên Tamas sẽ mờ nhạt dần và chuyển hóa thành an nhiên, vô tư, buông bỏ, xa lìa, và bất biến. Tamas trở thành nền tảng vững chắc mà trên đó một cuộc sống hợp nhất có thể được sống.

H: Thế cái bất biến, liệu nó có chết đi?

M: Chỉ cái thay đổi mới chết. Cái bất biến không sống mà cũng chẳng chết; nó là nhân chứng phi thời của sống và chết. Ông không thể gọi nó là chết, vì nó biết. Mà ông cũng không thể gọi nó là sống, vì nó không thay đổi. Nó cũng giống như cái máy thu băng. Nó ghi lại và phát ra – tất cả bởi chính nó. Ông chỉ lắng nghe. Tương tự như thế, Ta quan sát tất cả những gì xảy ra, kể cả khi Ta đang nói với ông. Ta không phải là người nói, ngôn từ xuất hiện trong tâm và Ta nghe chúng được nói ra.

H: Không phải ai cũng như ông?

M:Ai bảo thế? Ông cứ khăng khăng cho rằng ông nghĩ, ông nói, trong khi đối với Ta chỉ có hành vi suy nghĩ, và chỉ có hành vi nói.

H: Có hai trường hợp tôi cần phải cân nhắc. Hoặc là tôi đã tìm được một Đạo sư, hoặc là chưa. Trong mỗi trường hợp điều đúng để làm là gì?

M: Không bao giờ ông vắng thiếu Đạo sư vì Đạo sư luôn luôn có mặt trong tim ông. Có khi vị Đạo sư ứng hiện ở bên ngoài và đến với ông như một yếu tố nâng cao và cải thiện cuộc sống của ông, có thể là một bà mẹ, một người vợ, một vị thầy; hoặc vị Đạo sư vẫn chỉ là một động cơ bên trong thôi thúc ông đến với chánh nghiệp và sự toàn hảo. Tất cả những gì ông cần làm là quy thuận và làm theo những gì Đạo sư chỉ bảo. Điều Đạo sư muốn ông làm rất giản dị: học cách biết chính mình, kiềm chế chính mình, và buông bỏ chính mình. Điều này có vẻ như gian khổ và hoàn toàn bất khả nếu không có sự thành khẩn của ông, nhưng rất dễ dàng nếu ông thành khẩn. Thành khẩn vừa là cần thiết vừa là đủ. Tất cả đều khuất phục trước sự thành khẩn.

H: Điều gì làm cho một người thành khẩn?

M: Từ bi là nền tảng của thành khẩn. Từ bi với chính ông và với người khác – phát sinh từ đau khổ của chính ông và của tha nhân.

H: Tôi có cần phải đau khổ để thành khẩn?

M: Không cần, nếu ông bén nhạy và cảm ứng với những đau khổ của người khác – như Đức Phật đã làm. Nhưng nếu ông chai đá và không có từ tâm, thì chính sự đau khổ của ông sẽ khiến ông nêu lên những câu hỏi tất nhiên.

H: Tôi nhận thấy chính tôi đau khổ, nhưng chưa đủ. Cuộc đời thì khó ưa nhưng vẫn có thể chịu được. Những lạc thú tầm thường bù lại những đau khổ vặt vãnh của tôi, và nhìn chung tôi vẫn còn hơn hầu hết những người tôi biết. Tôi biết thân phận của tôi rất bấp bênh, một tai họa nào nó có thể phủ chụp lên tôi bất cứ lúc nào. Liệu tôi có phải chờ cho đến khi một cuộc khủng hoảng nào đó đưa đẩy tôi đến với con đường của chân lý?

M: Ngay khi nhận ra thân phận của ông rất mong manh thì ông đã tỉnh thức. Vậy, hãy duy trì sự tỉnh thức, chú ý, tìm hiểu, tra vấn, phát hiện những lầm lẫn của ông về tâm và thân, rồi từ bỏ chúng.

H: Năng lực ở đâu ra? Tôi cũng như một kẻ bại liệt trong một ngôi nhà đang cháy.

M: Ngay cả những người bại liệt vẫn tìm ra đôi chân của họ vào những lúc nguy hiểm! Nhưng ông có bại liệt đâu, ông chỉ tưởng tượng thế thôi. Hãy bước bước đầu tiên và ông lên đường.

H: Tôi cảm thấy sự bám víu vào thân xác của tôi quá mãnh liệt khiến tôi không thể nào từ bỏ ý nghĩ tôi là thân xác. Ý nghĩ đó vẫn đeo bám tôi khi nào thân xác còn tồn tại. Có nhiều người cho rằng giác ngộ không thể xảy ra khi còn sống, và tôi có khuynh hướng đồng ý với họ.

M: Trước khi đồng ý hay không đồng ý, tại sao không tra vấn cái ý tưởng về một thân xác? Thế tâm ở trong thân hay thân ở trong tâm? Chắc chắn là phải có một cái tâm để chuyển chở ý tưởng “Ta là thân xác”. Một thân xác không có tâm thì không thể là “thân xác của tôi”. “Thân xác của tôi” hoàn toàn không có khi tâm tôi trống vắng. Nó cũng không có khi tâm mải mê với ý nghĩ và cảm thọ. Một khi nhận ra rằng thân xác tùy thuộc vào tâm, và tâm tùy thuộc vào ý thức, và ý thức tùy thuộc vào tánh biết – thay vì ngược lại, thì câu hỏi của ông về sự giải thoát chính mình phải chờ cho đến khi chết – được trả lời. Không phải ông thoát ra khỏi ý tưởng “Ta là thân xác” trước, rồi mới giác ngộ cái Ta. Ngược lại thì mới đúng – ông bám víu vào cái hư giả vì ông không biết cái chơn thật. Lòng thành khẩn – không phải sự toàn hảo – là điều kiện tiên quyết để giác ngộ chính mình. Công đức và sức mạnh đến cùng với sự giác ngộ, chứ không phải trước đó.

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x