Trang chủ » Chương 1 – GIÁO DỤC TỪ SỚM LÀ ĐÀO TẠO THIÊN TÀI

Chương 1 – GIÁO DỤC TỪ SỚM LÀ ĐÀO TẠO THIÊN TÀI

by Hậu Học Văn
45 views

1.

Nhiều năm trước, có một thiếu niên đã tốt nghiệp Đại học Harvard khi mới 15 tuổi. Thiếu niên đó là William James Sidis, con trai của nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ, Boris Sidis. Thành tích học tập của William được coi là hết sức kỳ diệu. Cậu bé William bắt đầu được học từ khi 1 tuổi rưỡi, đến lúc 3 tuổi đã biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ. Lên 5 tuổi, khi nhìn thấy tiêu bản của một bộ xương trong nhà, cậu bé đặc biệt hứng thú với cấu tạo cơ thể người và bắt đầu học môn sinh lý học, không lâu sau đã đạt được trình độ học vấn tương đương với người có chứng chỉ hành nghề y. Vào mùa Xuân năm lên 6 tuổi, cậu đến trường tiểu học cùng những đứa trẻ khác. Ngày nhập học, William vào lớp 1 lúc 9 giờ và đến 12 giờ khi mẹ đến đón, cậu đã học xong lớp 3. Trong năm đó, cậu bé đã học xong tiểu học. Lên 7 tuổi, William muốn học tiếp trung học nhưng vì còn nhỏ nên bị từ chối và phải học ở nhà. Ở nhà, William đã tự học chủ yếu là môn toán ở bậc trung học.

Năm 8 tuổi, cậu vào trường trung học, môn nào cũng xuất sắc, đặc biệt là toán học, thậm chí có thể giúp thầy sửa bài cho những học sinh khác.

Thời gian đó, William đã viết sách thiên văn học, ngữ pháp tiếng Anh và sách giáo khoa tiếng La-tinh. Tất cả kiến thức trung học cậu đã nắm vững và chẳng mấy chốc mà tốt nghiệp. Từ lúc đó trở đi, tên tuổi William bắt đầu lan rộng. Nhiều người gần xa đã đến tìm cậu để kiểm chứng và tất cả đều hết sức khâm phục. Lấy một ví dụ như sau. Một giáo sư dạy ở Học viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ, đã chất vấn Wil- liam bằng một câu hỏi khó trong đề thi của kỳ thi lấy bằng tiến sĩ của chính ông tại Đức. Chỉ trong nháy mắt, cậu đã giải xong. Lúc đó, William mới 9 tuổi. William tự học ở nhà và đến 11 tuổi thì vào học tại Harvard, không lâu sau đã tham gia diễn thuyết về đề tài Không gian bốn chiều – một vấn đề rất khó của toán học – và đã khiến các giảng viên hết sức ngạc nhiên. Năm 12 tuổi, William đã rất tâm đắc với cuốn Thiên tài và người bình thường của bố mình là tiến sĩ Boris. Cậu đặc biệt giỏi về thiên văn học và toán học cao cấp – những thứ mà các học giả thời đó rất đau đầu. Đặc biệt hơn, William còn thuộc cả bản gốc bộ sử thi Iliade và Odysée viết bằng tiếng Hy Lạp. Cậu rất giỏi các ngôn ngữ cổ xưa. Những tác phẩm của các nhà hài kịch Hy Lạp cổ đại như Sophocles, Euripides, Aristophanes… cậu đều đọc và hiểu dễ dàng, chẳng khác gì cuốn truyện phiêu lưu Robinson Crusoe mà những đứa trẻ khác vẫn hay đọc. Cậu cũng nắm rõ về thần thoại và ngôn ngữ so sánh, lý luận học, lịch sử cổ đại, lịch sử nước Mỹ… đồng thời cũng am hiểu về chính trị và hiến pháp của các quốc gia khác.

Với trình độ đó, cậu đã tốt nghiệp đại học loại xuất sắc và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Cũng trong năm đó, cùng tuổi với Sidis còn có một thiếu niên khác cũng tốt nghiệp Harvard là Adoref Augustus Berle, con trai của giáo sư Berle, giảng viên môn thần học trường Đại học Taft. Cậu vào học sau Sidis một chút, khi 13 tuổi rưỡi, tuy nhiên thay vì học 4 năm như mọi người, cậu chỉ học mất 3 năm. Sau đó, cậu tiếp tục theo ngành luật.

Ngoài ra còn một người khác là con trai của tiến sĩ ngôn ngữ Slavơ, tên là Norbert Wiener. Cậu vào học đại học trước Sidis và học ở Đại học Taft từ năm 10 tuổi, đến năm 14 tuổi thì tốt nghiệp và học tiếp cao học tại Harvard, đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi.

Đọc những điều ở trên, người ta chắc hẳn sẽ nghĩ đấy chính là những thần đồng trên thế giới. Nếu chúng ta chỉ cố gắng và làm được một chút rồi giải thích rằng ta chỉ là người bình thường, còn những thần đồng chỉ trong một chốc lát đã học xong đại học, họ là “của hiếm”, thì đó là cách nghĩ sai lầm! Những người đó không phải sinh ra đã là thần đồng. Họ là kết quả của nhiều nền giáo dục, là những anh tài đã được giáo dục và đào tạo.

Berle và Norbert cũng có anh chị em và cũng được trải qua quá trình học tập như nhau. Chị gái của Berle là Lina. Khi Berle học tại Harvard thì ở tuổi 15, Lina cũng vào học tại Đại học Radcliffe và tốt nghiệp cùng lúc với Berle. Em gái của Norbert là Constans cũng vào học tại Radcliffe năm 14 tuổi, cô em gái kế tiếp là Berta cũng vào học trong cùng năm đó ở tuổi 12. Không thể có sự ngẫu nhiên nào như thế! Đó thực sự là kết quả của việc giáo dục mà nên. Nhưng sự giáo dục cũng có nhiều loại, và nền giáo dục đó là như thế nào? Có thể nói nó tựa như việc nuôi dưỡng trong nhà kính vậy. Những cô bé cậu bé đó, giống như những bông hoa trồng trong nhà kính, được chăm bón để ra hoa kết trái sớm, vì thế trở thành những thần đồng. Nói cách khác, đó chính là “thần đồng nhân tạo”, do vậy tất nhiên sẽ mang trong mình những căn bệnh vốn có và đương nhiên cũng chịu chi phối bởi quy luật “10 tuổi là thần đồng, 15 tuổi là tài tử, còn trên 20 tuổi lại là người bình thường”.

2.

Từ xa xưa đã có người được hưởng nền giáo dục giống như những cô cậu bé ở trên. Nhà luật học người Đức Karl Witte là một trong số đó. Ông sinh vào tháng 7 năm 1800 tại làng Lochau gần vùng Hale. Cha ông chỉ là mục sư của làng, nhưng có rất nhiều sáng kiến đáng ngạc nhiên. Trong số đó, có giá trị nhất là những lý luận về giáo dục. Khó mà hiểu được tại sao ở thời đó ông lại có những suy nghĩ như vậy, nhưng quả thực ông đã cho rằng phải giáo dục con cái ngay từ khi là một đứa trẻ sơ sinh. Nói theo ngôn ngữ của ông, giáo dục con trẻ phải bắt đầu từ buổi bình minh của nhận thức. Ông tin rằng với cách đó đứa trẻ sẽ trở nên phi phàm. Ông cũng tuyên bố rằng mình sẽ làm như vậy với con cái. Không may, đứa con đầu lòng của ông đã qua đời ngay khi vừa sinh ra. Karl Witte là con kế. Nhưng ông không ngờ Witte lại là đứa trẻ đần độn, đến nỗi ông phải thốt lên: “Tôi đã làm gì nên tội mà ông Trời bắt tôi có một đứa con thế này!”.

Những người xung quanh cũng đến an ủi ông. Ngoài mặt tuy họ nói rằng không đến mức phải lo lắng quá, nhưng lại thì thầm sau lưng rằng Witte đúng là một đứa trẻ kém phát triển. Tuy nhiên, cha của Witte không tuyệt vọng. Ông từng bước áp dụng những kế hoạch giáo dục của riêng mình. Đầu tiên, ngay cả mẹ Witte cũng nói rằng đứa trẻ thế này thì dù có dạy dỗ thế nào cũng vô ích, sẽ chẳng làm nên trò trống gì. Nhưng tấm lòng người cha của ông không cho phép từ bỏ. Và rồi không lâu sau, đứa trẻ đần độn đó đã khiến tất cả mọi người xung quanh phải ngạc nhiên.

Năm lên 8, 9 tuổi, cậu bé Witte đã thông thạo sáu thứ tiếng: Đức, Pháp, Ý, La-tinh, Anh và Hy Lạp; không những thế lại còn hiểu biết cả về động vật học, thực vật học, vật lý, hóa học và đặc biệt là toán học. Kết quả là năm 9 tuổi, Witte đã thi đậu vào Đại học Leipzig. Tháng 4 năm 1814, chưa đầy 14 tuổi, Witte đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ về đề tài toán học, sau đó nhận bằng tiến sĩ triết học, nhận bằng tiến sĩ luật năm 16 tuổi và được bổ nhiệm làm giảng viên luật ở Đại học Berlin. Trước khi đảm nhận cương vị giảng viên tại Đại học Berlin, Witte nhận được một khoản học bổng khá lớn từ Quốc vương Prosia và sang Ý du học. Trong thời gian ở Firenze, nơi được xem là trung tâm văn hóa của châu Âu thời bấy giờ, ông bắt đầu nghiên cứu về thần học Dante – lĩnh vực khó không chỉ đối với người nước ngoài mà ngay cả với người dân Ý. Ngay cả nơi Dante sinh ra cũng đã phát sinh rất nhiều những cách hiểu sai lệch. Ông tiếp tục quá trình nghiên cứu đến năm 23 tuổi và cho ra đời cuốn sách Sai lầm của Dante, trong đó chỉ trích những sai lầm của các học giả nghiên cứu về Dante thời bấy giờ và mở ra một hướng nghiên cứu mới.

Chuyên môn của ông là luật học, nhưng ông đã rất thành công khi chuyển sang nghiên cứu Dante. Tuy nhiên, Quốc vương Prosia cho ông đi du học ở Ý với mục đích để ông trở thành một luật sư tài giỏi, vì thế ông tập trung vào nghiên cứu luật học, còn nghiên cứu Dante chỉ được xem như trò giải trí. Sau khi từ Ý về, ông trở thành giảng viên luật tại Đại học Bresau rồi chuyển sang Đại học Hale và giảng dạy ở đó đến khi qua đời vào năm 1883.

Điều đáng mừng là cha Witte đã ghi lại tất cả những phương pháp mà ông áp dụng để nuôi dạy Witte cho đến lúc 14 tuổi, sau đó viết thành cuốn sách mang tên Phương pháp giáo dục của Witte. Cuốn sách này được viết cách đây hàng trăm năm và đến nay gần như đã bị thất lạc hoàn toàn. May sao trong thư viện của Đại học Harvard còn lại một quyển – là quyển duy nhất ở Mỹ – và nó được bảo quản cẩn thận trong phòng lưu trữ tác phẩm quý.

Độc giả chắc vẫn còn nhớ, cha Wiener là giảng viên của trường Harvard. Ông đã đọc cuốn Phương pháp giáo dục của Witte và dùng cuốn sách đó làm cẩm nang để dạy các con mình. Tiếp theo là tiến sĩ Boris Sidis, cha của James Sidis, cũng từng là học sinh trường Harvard, cũng tình cờ đọc và áp dụng cuốn sách này để nuôi dạy và giáo dục con cái.

Còn về cha của Berle, tôi không rõ ông có mối liên hệ nào với trường Harvard hay không, nhưng tôi đã đọc cuốn Trường học gia đình của ông và biết chính xác rằng ông đã đọc cuốn Phương pháp giáo dục của Witte, cũng như nuôi dạy con theo cách đó.

Tóm lại, cả Wiener, Sidis và Berle đều được giáo dục theo phương pháp của cha Witte. Nếu nhìn từ cuộc đời Witte thì có thể suy ra rằng họ sẽ có tương lai đầy triển vọng. Vì thế, chúng ta cũng không cần phải quá lo lắng về việc “sau 20 tuổi sẽ thế nào…”.

3.

Nói một cách ngắn gọn thì phương pháp mà Witte được giáo dục cách đây hơn một trăm năm, sau đó áp dụng cho Sidis, Berle, Wiener, có thể gọi là giáo dục từ sớm. Tất cả những người áp dụng phương pháp này đều tin rằng giáo dục từ sớm là cơ sở để đào tạo anh tài, và đây là một niềm tin có căn cứ.

Nhìn vào lịch sử Hy Lạp, ta có thể thấy Athens là một nơi mà “Nhân tài nhiều như sao trên trời”, trong khi dân số lại rất ít – ở thời thịnh vượng nhất cũng chỉ có khoảng 500.000 người, nhưng trong số đó 4/5 là nô lệ. Năm 490 trước công nguyên, vua Darius của xứ Ba Tư đã đưa 120.000 quân, 600 tàu chiến chinh phạt Athens. Tình huống ngàn cân treo sợi tóc. Thế nhưng tại trận đại chiến Marathon, quân Athens chỉ với khoảng 10.000 người đã giành thắng lợi, chỉ tổn thất 192 người. Nhìn vào đấy có thể thấy rằng Athens tuy chỉ là một đô thị nhỏ nhưng lắm người tài. Điều này cũng là nguyên nhân khiến một số người chủ trương học thuyết Cải tạo Nòi giống, mà đi đầu là Francis Galton với Thuyết Ưu sinh. Họ cho rằng người Hy Lạp là những con người có nhiều phẩm chất ưu tú. Thực chất, đó là những người được giáo dục từ sớm – một tập quán của người Hy Lạp xưa.

Thêm một ví dụ nữa. Độc giả hẳn đã từng nghe tên Huân tước Kelvin William Thomson, nhà vật lý học vĩ đại sau Newton. Ông cũng được giáo dục từ khi còn rất nhỏ. Cha ông, James Thom- son, là con của một nông dân người Scotland di cư sang Ireland sinh sống. Đã là nông dân thì ở đâu cũng có cuộc sống vất vả, cực khổ giống nhau. Với suy nghĩ “phải làm gì đó để cuộc sống của con cái sau này bớt khổ”, cha mẹ Thomson đã cố gắng làm mọi việc để kiếm tiền nuôi con ăn học và đem con gửi ở trường. Nhưng sau khi vào trường, Thomson không muốn học nên cuối cùng họ phải gửi Thomson cho một trường học làng bên cạnh.

Ở ngôi trường này, Thomson đặc biệt giỏi toán. Thomson nghĩ sau này mình nhất định sẽ vào học đại học hoặc theo chuyên ngành thần học và gia nhập vào thế giới tôn giáo để làm gì đó cứu giúp xã hội. Thomson cũng biết rằng dù lựa chọn theo con đường nào thì mục tiêu trước tiên vẫn là phải vào đại học. Tuy nhiên, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình nên Thomson cũng biết rằng không thể nhờ vào cha mẹ, do đó ông vừa học vừa làm thêm. Mỗi năm ông chỉ học sáu tháng ở trường, còn sáu tháng làm thêm. Nhưng cuối cùng ông cũng tốt nghiệp Đại học Glasgow đúng theo thời gian đào tạo là bốn năm. Sau khi tốt nghiệp, Thomson trở thành giáo sư toán ở Trường Belfast, Bắc Ireland. Cũng tại nơi này, ông đã quen và sau này kết hôn với cô bạn gái thời đại học và có bốn đứa con. Hai người con đầu là con gái, hai con trai sau là James và William (James sinh năm 1822, William sinh năm 1824).

Với suy nghĩ “dạy con từ thuở còn thơ”, ngay từ khi con mình được sinh ra, ông nhìn lại cuộc đời mình và quyết định phải giáo dục con ngay từ khi còn nhỏ. Không biết ông có đọc sách của Witte không, nhưng ông có một điểm chung với cha của Witte là bắt đầu dạy con đọc và viết song song với dạy nói. Sau đó, ông cùng với vợ dạy con các môn toán học, lịch sử, địa lý và tìm hiểu thiên nhiên.

Ngoài việc giảng dạy môn toán ở Đại học Glasgow, ông còn viết sách nên rất bận rộn. Hàng ngày, ông dậy từ 4 giờ sáng, chuẩn bị bài giảng và tài liệu để viết sách, nhưng luôn dành trọn buổi trưa để dạy con. Không may, năm 1830, vợ ông qua đời lúc William 6 tuổi, James 8 tuổi. Đây là một cú sốc rất lớn với ông và các con. Còn lại một mình, ông vẫn tiếp tục cố gắng nuôi dạy anh em William. Năm 1833, ông được bổ nhiệm làm giáo sư toán học tại Đại học Glasgow. Ở đây, nhờ quen biết các giáo sư nên ông đã thu xếp cho James (10 tuổi) và William (8 tuổi) vào học dự thính các giờ giảng của mình và hai, ba giảng viên khác. Kết quả thật đáng mừng. Sau hai năm, các con ông đã được nhận vào học chính thức và đều là những học sinh xuất sắc. Đặc biệt William được xếp vào nhóm mười học sinh có thành tích học tập cao nhất. Năm 20 tuổi, William đã dịch cuốn Cuộc đàm thoại của các vị thần từ tiếng Nga sang tiếng Anh, sau đó ông nhận một giải thưởng từ nhà trường. Sau này, James đã trở thành chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp, còn William trở thành nhà vật lý học vĩ đại – Huân tước Kelvin.

Tiếp theo là John Steward Mill – nhà triết học, nhà kinh tế chính trị học, lý luận học người Anh. Theo cuốn tự truyện của Mill thì không rõ ông được dạy tiếng Hy Lạp từ lúc nào, nhưng từ 3 tuổi ông đã được cho học bảng chữ cái Hy Lạp. Bảy tuổi Mill đã đọc được Plato bằng tiếng Hy Lạp, học tiếng La-tinh năm 8 tuổi và đọc được Logic của Aristotle năm 11 tuổi. Luận văn của ông đã được đăng rộng rãi trên các tờ báo và tạp chí khi Mill 16 tuổi.

Nhà thơ Đức Goethe cũng được giáo dục từ rất sớm. Ông có thể đọc và viết thông thạo tiếng Đức, Pháp, Ý, La-tinh và tiếng Hy Lạp khi mới 8 tuổi. Kiệt tác Bàn tay thép của Goetz von Berlichingen được viết khi ông 22 tuổi. Ngoài ra, Goethe cũng đảm nhận một số vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính của Đức khi còn rất trẻ: Bộ trưởng Tài chính năm 23 tuổi, Thủ tướng năm 24 tuổi. Từ rất sớm, Goethe đã được cho học tất cả các môn học phổ thông, đặc biệt là các ngôn ngữ như tiếng La-tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp và tiếng Anh. Ngoài ra, ông còn được học khiêu vũ, cưỡi ngựa và đánh kiếm. Phương pháp giáo dục của cha Goethe có điểm rất đặc biệt: Ông không chỉ mời thầy giáo dạy học cho con, mà còn chú ý phát huy tính tự tin cho con. Thỉnh thoảng, ông bắt Goethe đứng trên ghế và đọc to những bài văn cho ông và mọi người nghe. Nhờ đó, ông đã giúp Goethe dần dần khắc phục tâm lý e ngại khi đứng trước đám đông. Năm 14 tuổi, tài diễn thuyết và hùng biện của Goethe thật sự làm nhiều người thán phục.

Luật sư Richard Bethell khi cùng cha đến xin nhập học vào Đại học Oxford đã bị hiệu trưởng từ chối vì khi ấy ông mới 14 tuổi. Cha của Richard Bethell đã nói với thầy hiệu trưởng rằng: “Con trai tôi tuy nhỏ tuổi nhưng hiểu biết không hề nhỏ. Xin hãy cho cháu một cơ hội thử xem. Không chỉ vậy, nếu sau khi cháu được nhập học, tôi mong muốn cháu có thể được nhận học bổng nếu như thành tích học tập tốt”. Cuối cùng, Bethell cũng được nhập học và đúng là ông đã nhận được nhiều học bổng trong thời gian học tập ở Đại học Oxford.

Nhìn vào các ví dụ này, chúng ta có thể phần nào khẳng định rằng lập luận giáo dục từ sớm sẽ tạo ra thiên tài không phải là vô căn cứ.

4.

Tại sao giáo dục từ sớm sẽ tạo ra nhân tài? Để kiểm chứng chắc chắn phải đề cập đến khả năng của trẻ. Ví dụ như việc trồng một cái cây. Nếu chúng ta mong muốn nó sẽ cao 30 mét và có thể làm cho nó phát triển như vậy thì coi như chúng ta đã phát huy hết khả năng vốn có của nó. Tuy nhiên việc này rất khó. Như cái cây kia dù có khả năng phát triển đến chiều cao 30 mét, nhưng thực tế nó khó mà đạt đến độ cao đó. Nếu chịu khó chăm sóc và nuôi dưỡng đúng cách thì nó có thể cao 15 hoặc 20 mét, trường hợp xấu hơn là 6 mét đến 9 mét, hoặc tệ nhất có thể là nó sẽ không sống được.

Con người cũng như vậy. Đứa trẻ sinh ra sẵn có 100 phần năng lực, nhưng nếu cứ để một cách tự nhiên thì nó có thể chỉ phát triển được 20, 30 phần. Nếu được giáo dục tốt có thể khi trưởng thành nó sẽ phát triển đến 60, 70 phần, hay tốt hơn là được 80, 90 phần. Lý tưởng nhất là đứa trẻ được giáo dục để phát huy được đủ 100 phần năng lực vốn có. Nhưng năng lực của trẻ tồn tại theo quy tắc giảm dần: Nếu được giáo dục tốt từ khi sinh ra thì có thể đạt được đủ 100 phần, nhưng nếu bắt đầu từ khi 5 tuổi thì dù có làm tốt đến mấy cũng chỉ phát huy được 80 phần, nếu bắt đầu từ 10 tuổi thì tối đa chỉ được 60 phần. Nghĩa là thời điểm bắt đầu càng muộn thì khả năng phát huy năng lực sẵn có càng giảm. Tại sao lại có quy tắc giảm dần này?

Ở mỗi loài động vật đều có một thời kỳ phát triển nhất định. Đương nhiên có những khả năng mà thời gian phát triển là khá dài, nhưng có những khả năng chỉ có thể phát triển trong một giai đoạn rất ngắn, và nếu không được phát triển trong thời gian đó thì nó sẽ vĩnh viễn mất đi. Lấy ví dụ việc phát triển “khả năng theo dấu gà mẹ” ở gà con là thời gian sau khi sinh được khoảng bốn ngày. Nếu trong vòng bốn ngày mà tách gà con khỏi gà mẹ thì sau đó gà con sẽ không bao giờ biết đi theo gà mẹ nữa.

Tương tự, thời kỳ phát triển “khả năng nhận biết tiếng mẹ” là thời gian sau khi sinh tám ngày. Nếu trong tám ngày mà gà con không được nghe tiếng gà mẹ thì nó sẽ không bao giờ nhận dạng được âm thanh đó nữa. Chó con cũng có một kỹ năng gọi là “chôn thức ăn thừa xuống đất”. Khả năng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, mà nếu đúng vào thời gian đó, chó con được nuôi trong ngôi nhà không có chỗ để đào bới và chôn thức ăn thì sau này nó cũng sẽ không bao giờ biết làm việc đó.

Con người chúng ta cũng vậy.

Có lần tôi đến một làng chài và trò chuyện với các ngư dân. Một người than phiền rằng: “Gần đây chẳng có những người bơi lội, chèo thuyền, quăng lưới giỏi như trước nữa, bởi vì vào tuổi 11, 12 là thời kỳ rất quan trọng để bắt đầu tập làm việc đó thì các em đều phải đến trường”. Đối với việc học ngoại ngữ, nếu trẻ không bắt đầu trước 10 tuổi thì sau này sẽ không tiến bộ được. Nhưng phải bắt đầu cho trẻ học tiếng mẹ đẻ cho nhuần nhuyễn trước khi học tiếng nước ngoài. Những môn năng khiếu như piano, violon… cần được dạy từ rất sớm. Thậm chí có ý kiến cho rằng muốn thành tài thì nên cho trẻ học piano trước 5 tuổi, còn violon thì phải từ lúc 3 tuổi.

Mỗi chúng ta đều có cơ hội để phát triển, nhưng nếu bỏ qua “thời điểm vàng” của nó thì từng khả năng một sẽ vĩnh viễn mất đi. Đây gọi là sự giảm dần khả năng tiềm tàng của trẻ. Và “giáo dục từ sớm sẽ tạo ra thiên tài” chính là ở dựa trên quan điểm đó. Độc giả có thể sẽ lo lắng cho sức khỏe của con mình nếu được giáo dục từ sớm. Thật ra đây cũng là vấn đề nan giải mà từ xưa người ta đã nghĩ đến. Cha của Witte, cha của anh em nhà Thomson… đều đã phải đối mặt với vấn đề này.

Nhưng trên thực tế, tất cả những người mà ta tìm hiểu ở trên đều có sức khỏe tốt: Witte sống đến 83 tuổi, Huân tước Kelvin thọ 83 tuổi, James Thomson 70 tuổi… Tóm lại, không có bằng chứng nào về việc giáo dục từ sớm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

❁ ❁ ❁
Tác giả: Kimura Kyuichi
(Nếu bạn yêu thích hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả, dịch giả và nhà xuất bản)

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x