Trang chủ » 1. THƯ CỦA TOLSTOI

1. THƯ CỦA TOLSTOI

by Trung Kiên Lê
56 views

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG CỦA TOLSTOI

PHẦN I: TÁC PHẨM

1. Về giáo dục quốc dân

2. Về giáo dục và đào tạo

3. Tự bạch

4. Tín ngưỡng của tôi

5. Lời bạt cho bản SONAT KREUTZER

6. Về cuộc sống

7. Yêu lao động, hay là thắng lợi của nhà nông

8. Vương quốc của thiên chúa ở trong ta

9. Tôn giáo và đạo đức

10. Vô vi

11. Nhân hội nghị về hòa bình

12. Hai cuộc chiến

13. Lời tựa cho bài viết của EDWARD CARPENTER

14. Chủ nghĩa ái quốc và chính phủ

15. Đừng giết người

16. Trả lời quyết định của thánh vụ viện

17. Tôn giáo là gì và bản chất của nó ở đâu?

18. Về khoan dung tín ngưỡng

19. Lời tựa cho tiểu sử anh ngữ của GARRISON do V.G CHERTKOV và F. HOLLA biên soạn

20. Gửi nhân dân lao động

21. Gửi các nhà hoạt động chính tri

22. “Hãy tỉnh ngộ”

23. Chung cục một thời đại

24. Lời kêu gọi những người Nga

25. Về ý nghĩa của cách mạng Nga

26. Thư gửi một người Trung Quốc

27. Thư gửi một người Ấn Độ

28. Phúc đáp một phụ nữ Ba Lan

29. Gửi đại hội Slave ở Sofia

30. Tham luận chuẩn bị cho Đại hội hòa bình tại Stokholm

31. Bàn thêm về khoa học

32. Bàn về giáo dục

33. Bước ngoặt không thể tránh khỏi

34. Chỉ một giới luật

35. Về chủ nghĩa xã hội

36. [Bài nói đã ghi âm]

37. Chuyện trò với thiếu nhi về những vấn đề đạo đức

38. Hãy tin mình

39. Tự nhủ

40. Đường sống

PHẦN II: THƯ TỪ

1. Thư của Tolstoi

2. Tolstoi với I.S.Turgenev

3. Tolstoi với Vladimir Soloviev

4. Tolstoi với Romain Rolland 

5. Tolstoi với Bernard Shaw

6. Tolstoi với M. Gandhi

7. Tolstoi với Adin Ballou và Lewis G. Wilson 

8. Tolstoi với một viên chức Mỹ

9. Tolstoi với hai nữ sinh da màu Mỹ

1. Gửi A.A Tolstaya

Tiểu dẫn – Nữ bá tước Alexandra Andreevna Tolstaya (1817 – 1904) là cô họ của Tolstoi. Thuộc dòng dõi danh giá lại có trí thông minh đặc biệt và học vấn sâu rộng, bà từ trẻ được tuyển vào cung, làm thị nữ cho hoàng hậu, rồi gia sư cho nhiều công chúa và hoàng thân Nga. Trong những người họ hàng của mình, Tolstoi đặc biệt quý trọng bà, chọn bà làm bạn tâm giao, không ngần ngại giãi bày với bà những tư tưởng tâm huyết nhất, sâu kín nhất của mình. Bộ sưu tập thư từ trao đổi giữa Tolstoi và A.A Tolstaya đã được in thành sách riêng (Peterburg, 1911) và cho đến nay vẫn là một trong những tư liệu gốc quý giá về nhà văn và nhà tư tưởng Nga vĩ đại.

[Moskva, 18-20 tháng Mười 1857) [145]

[…] Cháu không trả lời ngay lập tức thư của cô bởi vì cứ định nay mai sẽ lên Peterburg, bây giờ vẫn giữ ý định, nhưng cứ phải hoãn đi hoãn lại mãi và cháu bắt đầu thấy xấu hổ. Em gái cháu[146] cần đi Moskva, và cháu đã đi với nó. Mùa đông này nó không được ra nước ngoài và cũng không được lên Peterburg; vì vậy cả cháu cũng không ra khỏi Nga suốt mùa đông này, nhưng cháu sẽ lên Peterburg trong những ngày rất gần. Cháu muốn được trò chuyện nhiều, rất nhiều với cô. Cô chờ mong ở cháu một lời khuyên trấn an; cháu cũng lên gặp cô với nguyện vọng như thế và chúng ta cả hai sẽ không tìm được cái tìm kiếm.

Thường xuyên lo lắng, lao động, phấn đấu, mất mát – đó là những điều kiện tất yếu, mà không một ai được nghĩ là có thể thoát ly dù chỉ trong phút giây. Chỉ có lo lắng, đấu tranh và lao động chính đáng trên cơ sở tình yêu mới có thể đem lại cái được gọi là hạnh phúc. Nhưng nói đến hạnh phúc làm gì, một từ ngu ngốc; không phải hạnh phúc, mà tốt lành; còn sự lo lắng bất chính trên cơ sở chỉ yêu bản thân mình – đó là – bất hạnh. Đấy, xin bày tỏ với cô một cách ngắn gọn nhất sự thay đổi trong cách nhìn đời xảy ra trong cháu thời gian gần đây. Giờ đây cháu thấy nực cười nhớ lại, cháu từng nghĩ, xem ra cũng như cô đang nghĩ, rằng có thể thu xếp cho mình một thế giới nhỏ hạnh phúc và thiện lương và sống trong đó lặng lẽ, yên bình, không mắc lỗi, không vướng rối, không hối hận và nhẩn nha, cẩn thận và quy củ làm chỉ những điều hay lẽ phải.

Thật nực cười! Không được đâu, bà nội[147] ạ! Hệt như không thể mạnh khỏe nếu không vận động thân thể. Để sống trung thực, phải cựa quậy, phải vướng mắc, phải luẩn quẩn, phải lầm lạc, phải khởi công để rồi bỏ dở, lại khởi công và lại bỏ dở, và đấu tranh không ngớt và mất mát không ngừng. Còn bình yên – đó là sự đê tiện tinh thần. Chính vì vậy mà cái phần tồi tệ của tâm hồn chúng ta cứ ao ước bình yên mà không linh cảm được rằng sự đạt tới cái bình yên ấy đi đôi với đánh mất đi tất cả những gì tốt đẹp ở trong chúng ta những gì không của con người, mà từ trên cao.

Đấy, chẳng khác nào một bài giảng đạo, bà nội ạ. Nhưng cháu vịết không đùa bỡn tí nào đâu, và càng nghĩ cháu càng thấy quả là thế. […]

2. Gửi A.A Tolstaya

[ Cuối tháng Tư – đầu tháng Năm 1858]

[…] Những xác tín của con người, không phải những gì mà nó kể lể, mà những gì mà nó đúc kết được từ cả cuộc đời của nó, người khác khó hiểu lắm và cô không biết những xác tín của cháu đâu. Nếu như biết thì cô đã không đả kích như thế. Cho nên cháu sẽ cố gắng làm một frofession de foi – (sự tuyên tín) của cháu. Thời thơ ấu cháu tin đạo nồng nhiệt lắm, một cách dũng cảm, không nghĩ ngợi, nhưng sau đó vào tuổi khoảng 14 cháu bắt đầu suy nghĩ về cuộc sống nói chung và đã vấp phải tôn giáo – té ra nó không ăn khớp với mọi lý thuyết của cháu và dĩ nhiên cháu đã phá tan tành -nó và xem đó là công trạng của mình. Không có nó cháu sống rất yên ổn khoảng 10 năm. Tất cả đều mở ra trước cháu rõ ràng, hợp logic, phân hoạch thành những phần nhỏ và nhỏ hơn, nhưng không có chỗ cho tôn giáo.

Rồi đến cái thời, khi mà tất cả đều được khám phá, không còn gì bí ẩn trong cuộc sống nữa, nhưng bản thân cuộc sống bắt đầu mất đi ý nghĩa. Hồi đó cháu sống ở Kavkaz và cảm thấy mình rất cô đơn và bất hạnh. Cháu bắt đầu suy nghĩ rất căng thẳng, mỗi người trong đời xem ra chỉ một lần có sức suy nghĩ như thế. Cháu có những ghi chép thời ấy, và bây giờ đọc lại cháu không hiểu nổi tại sao con người có thể đi đến trạng thái phấn khích trí não như cháu hồi bấy giờ. Đó là một thời đầy đau khổ, nhưng đẹp. Chưa bao giờ, trước cũng như sau đó, cháu vươn tới tầm cao tư tưởng như thế, chưa bao giờ nhìn xa sang bên kia như thế, như trong khoảng thời gian hai năm ấy. Và tất cả những gì mà cháu đã tìm thấy trong khoảng thời gian ấy, mãi mãi sẽ là xác tín của cháu. Cháu không thể là khác được.

Từ hai năm làm việc trí óc ấy cháu đã rút ra được một điều giản đơn và cũ kỹ, nhưng cháu biết nó như không một ai biết – cháu đã tìm ra là có sự bất tử, có tình yêu, và vì thế cần phải sống cho những cái khác ấy, sống thế nào để được hạnh phúc vĩnh hằng. Những phát hiện ấy đã khiến cháu phải ngạc nhiên vì chúng giống với đạo Kitô quá, và cháu thay vì phát hiện bắt đầu tìm kiếm chúng trong kinh Phúc Âm, nhưng tìm được ít thôi. Cháu đã không tìm thấy cả Thiên Chúa, cả Đấng Cứu Chuộc, cả những bí lễ, không tìm thấy cái gì cả; mà cháu đã tìm bằng tất cả, tất cả, tất cả tâm lực, và đã vật vã khóc lóc, không mong muốn một cái gì ngoài chân lý. Hãy vì Chúa, cô đừng tưởng rằng từ những lời của cháu cô có thể hiểu một phần nào tất cả cường độ và mức tập trung của sự tìm kiếm thòi ấy nơi cháu. Đó là một trong những bí mật của tâm linh mà ai ai trong chúng ta cũng có; nhưng cháu có thể nói rằng cháu ít thấy ở ai một sự say mê với chân lý như là ở cháu thời ấy. Và cháu cứ thế ở lại với tôn giáo của mình […]

Những dòng trên cháu viết ngay sau khi nhận được thư của cô. Nhưng cháu đã dừng lại vì nhận ra rằng những lời dài dòng ấy vẫn không làm cho cô hiểu được dù chỉ một phần trăm những gì có trong cháu, thành thử chẳng nên viết tiếp làm gì. Nhưng vì cháu đã hứa với mình là không bao giờ sửa những thư viết cho cô, cho nên cháu vẫn gửi cô cả phần đã viết, vấn đề là ở chỗ cháu yêu quý, kính trọng tôn giáo, cháu cho rằng không có nó thì con người không thể tốt đẹp hay hạnh phúc, và cháu muốn có được tôn giáo nhiều hơn là mong muốn bất cứ cái gì khác trên đời này, và cháủ cảm thấy không có nó thì trái tim cháu mỗi năm một khô héo đi, và cháu vẫn hy vọng và trong những giây phút ngắn ngủi hình như cháu cũng tin đạo đấy, nhưng xét cho kỹ thì cháu không có cả tôn giáo lẫn đức tin.

Vả lại nơi cháu đờỉ sống làm ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo làm ra đời sống. Khi cháu sống tốt, cháu gần với tôn giáo hơn, cháu có cảm giác chỉ một tí nữa là cháu hoàn toàn sẵn sàng bước vào cái thế giới hạnh phúc ấy, còn khi cháu sống tồi, thì cháu lại thấy chẳng cần gì đến nó. Hiện giờ, ở làng quê cháu thấy ghê tởm chính mình, cháu thấy trái tim mình khô khan làm sao, vừa đáng sợ vừa đáng ghét, và nghe thấy rõ hơn sự cần thiết của đức tín. Nếu Chúa ban cho thì nó sẽ đến với cháu. Cô cười những thiên nhiên với họa mi. Nhưng với cháu đó là chất truyền dẫn tôn giáo. Mỗi linh hồn có con đường của mình, và là con đường không trí hội được, mà chỉ cảm thấy được trong thâm tâm. Có thể chính vì vậy mà cháu yêu cô đến thế. Bà nội ơi, người bạn yêu quý của cháu ơi, hãy chăm viết thư cho cháu đi. Cháu thấy buồn sầu lắm, cháu ghét mình lắm giữa làng quê này.

Trong lòng lạnh lẽo và khô khan đến phát sợ. Sống chẳng để làm gì. Hôm qua những ý nghĩ ấy đã đến với cháu với một sức mạnh khiến cháu phải hỏi kỹ lòng mình: ta đã làm điều tốt cho ai? Ta yêu ai? – Không yêu một ai! Ngay cả nỗi buồn, ngay mấy giọt nước mắt thương xót mình cũng không có. Cả sự sám hối cũng băng giá. Chỉ là những suy xét mà thôi và chỉ còn lại một việc – lao động. Nhưng lao động là cái gì cơ chứ? Rặt những chuyện vặt vãnh – cứ xắng xở, lo toan, nhưng trái tim thì thu hẹp lại, khô héo, chết dần. Cháu viết cho cô không phải để cô bảo cháu phải làm gì, an ủi cháu. Không làm được điều đó. Cháu viết đơn thuần bởi vì cháu yêu cô và cô hiểu cháu. [… ]

3. Gửi A.A. Tolstaya

[ Đầu tháng Tám 1961]

[…] Không, cô không được giận cháu – không bao giờ được giận. Lẽ nào có thể giận khi mà mỗi lần nhận được một dòng của cô, cháu viết hàng núi thư trả lời trong tim cháu? Cái đó cô phải biết chứ. Mà cô cần gì thư từ của cháu? Cô có bà Maltseva, cô có ông Perovski, cô có nữ công tước Viazemskaya — cô có tất cả. Cô cần gì đến một giọt của cháu trong cái biển cả của cô? Còn cháu thì lại là chuyện khác. Cháu về nhà từ đồn cảnh sát, sau khi rát họng giảng giải cho những anh nông dân rằng họ không những không được đánh nhau đến chảy máu mà nói chung không nên đánh nhau, hay rằng các vị điền chủ đã không còn được quyền cưỡng hôn những người con gái của họ nữa,… – và nhận được thư của cô.

Nhưng thực tình mà nói, cả cháu cũng không được ca thán. Cháu cũng có một việc làm đầy chất thơ, mê ly, không dứt khỏi được – đó là trường của cháu [148]. Ngày nào cũng thế, cứ ra khỏi văn phòng[149] và thoát khỏi tay những anh mugic theo đuổi cháu  từ mọi thềm nhà là cháu đến trường, nhưng bởi vì nó đang được xây lại cho nên các lớp đều được bố trí tạm thời trong vườn, dưới những cây táo, và chỉ khom lưng mới vào đến nơi được, tất cả um tùm, tươi tốt đến thế. Một thầy giáo ngồi ở đấy, xung quanh là lũ học sinh, vừa học vừa nhâm nhi những cọng cỏ hay vỗ kêu đôm đốp những lá phong, lá gia. Thầy giáo dạy theo những khuyến nghị của cháu, nhưng dẫu sao vẫn chưa tốt hoàn toàn, và lũ trẻ cũng cảm thấy thế.

Chúng ưa cháu hơn. Ngày nào cháu cũng chuyện trò với chúng 3-4 tiếng liền mà không ai thấy buồn chán. Không thể nào kể được chúng là những đứa trẻ thế nào, phải thấy chúng cơ. Trong tầng lớp thân yêu của chúng ta, cháu chưa được thấy một cái gì tương tự. Cô hãy hình dung ra nhé, trong vòng hai năm, với sự vắng mặt hoàn toàn của kỷ luật nhà trường, không một đứa con trai hay con gái nào bị phạt. Không bao giờ thấy sự lười biếng, thô lỗ, cợt nhả, nói tục. Trụ sở trường được hoàn thiện đã gần xong. Ba phòng lớn – một màu hồng, hai màu xanh lơ dành cho lớp học.

Trong một phòng được bố trí cả một bảo tàng nhỏ. Dọc theo tường, trên các ngăn được sắp đặt những mẫu đá, bươm bướm, những bộ xương, cỏ, hoa, những dụng cụ vật lý học, v.v… Chủ nhật trường mở cửa’ cho mọi người, và một anh chàng người Đức quê từ Jena (một thanh niên hóa ra dễ thương lắm) làm những thí nghiệm cho mọi người xem. Mỗi tuần một lần có buổi học thực vật, và chúng cháu tất cả đều vào rừng tìm hoa, tìm các giống cỏ, tìm nấm. Học hát mỗi tuần bốn lần, học vẽ sáu lần (vẫn anh người Đức ấy dạy), và rất tốt. Môn đo đạc tiến triển tốt đến nỗi những người mugic đã mời bọn con trai đến đo đất cho họ. Giáo viên tất cả có ba, ngoài cháu. Và còn linh mục nữa, mỗi tuần hai lần đến giảng đạo. Thế mà cô vẫn cứ nghĩ cháu là kẻ vô đạo. Cháu thậm chí còn dạy cho vị linh mục ấy cần phải giảng đạo thế nào. […]

Tạp chí[150] cháu định bắt đầu từ tháng Chín. Làm trung gian[151] thú vị và hấp dẫn đấy. Chỉ một nỗi là toàn bộ giới quý tộc đã căm thù cháu đến tận tâm can và thọc les batons dans les’roues[152] của cháu từ tứ phía. […]

4. Gửi A.A Tolstaya

[Moskva, 22 – 23 (?) tháng Bảy 1862]

[…] Cô có những lo ngại gì cho cháu?[153] Cháu cứ thắc mắc suốt thời gian qua, và bây giờ, sau khi nhận được tin từ Yasnaya Polyana, cháu mới hiểu tất cả. Tất cả những Potapov, Dolgoruki và Arakcheev[154] và những nhà tù biệt giam chẳng phài là bạn của cô hay sao? Người ta viết cho cháu từ Yasnaya Polyana: ngày 7 tháng Bảy ba xe tam mã với cảnh sát ập đến nhà cháu, ra lệnh không ai được ra khỏi nhà, trong đó có cả cô cháu[155] và bắt đầu lục lọi[156]. Họ tìm cái gì, bây giờ vẫn chưa rõ. Một ai đó trong những người bạn của cô, một tên đại tá bẩn thỉu, đã đọc hết những thư từ và nhật ký của cháu, mà cháu định chỉ trước khi chết mới giao phó cho người nào thân tín nhất với cháu lúc ấy; hắn đọc cả hai tập thư trao đổi mà để giữ kín chúng cháu sẵn sàng đánh đổi tất cả trên thế gian này – rồi xéo, tuyên bố rằng không tìm thấy cái gì khả nghi cả.

Thật là phúc chó cháu và cho tay bạn ấy của cổ, là lúc ấy cháu không ở đấy – nếu không thì cháu đã giết hắn. Đáng yêu thật! Hay thật! Đấy, chính phủ của chúng ta tạo ra bạn bè cho mình như thế đấy. Nếu cô nhớ cháu về phương diện chính trị, thì cô biết rằng cháu vốn luôn luôn dửng dưng hoàn toàn với chính phủ và càng dửng dưng hơn nữa với phái tự do hiện nay mà cháu khinh bỉ thực sự. Bây giờ thì cháu không thể nói thế nữa, bây giờ thì cháu căm giận và ghê tởm, gần như thù ghét cái-chính phủ đáng yêu ấy – cái chính phủ lục soát những máy in lito và tipo của cháu, nghi chúng in lại những truyền đơn của Herzen mà cháu khinh và cháu không bao giờ đọc hêt vì buồn chán. Thật đấy – đã có lần những truyền đơn mê hoặc lòng người ấy và cả “Tiếng chuông”[157] nữa nằm ở chỗ cháu đến một tuần, và cháu đà trả lại mà không buồn đọc. Cháu ngán ngẩm những thứ ấy lắm, tất cả những thứ ấy cháu biết tỏng và khinh bỉ không phải để nói cho oai, mà từ đáy lòng.

Thế mà bỗng dưng người ta đến khám xét cháu với những khách sinh viên của cháu, chẳng khác gì họ sẽ khám xét cô khi tìm ra ở đâu đó một đứa bé bị giết.  Thực ra, việc ấy còn chưa xúc phạm đến thế. Nếu mà họ biết và quan tâm đen sự tồn tại của cháu thì họ thiếu gì cách để hiểu biết cháu tốt hơn. Ôi những người bạn đáng yêu của cô! Cháu chưa gặp lại bà cô của cháu, nhưng cháu hình dung ra được tâm trạng của bà ấy. Có lần cháu viết cho cô rằng không được tìm chốn trú ẩn yên tĩnh trong cuộc đời, mà phải lao động, làm việc, đau khổ. Tất cả cái đó có thể làm, nhưng giá mà có thể trốn đi đâu đó để khỏi gặp mặt những kẻ cướp ấy, với những đôi má và bàn tay rửa xà phòng thơm, với những nụ cười niềm nở trên môi! Thật đấy, nếu cháu còn sống lâu, cháu sẽ đi tu, không phải để cầu nguyện Chúa, cái đó không cần thiết, theo cháu, mà chỉ để không phải thấy tất cả sự đồi bại tởm lợm của người đời – sự đồi bại trịnh trọng, tự mãn, đeo ngù và mặc váy crinolin. Sao mà tởm! Sao cô, một con người tuyệt diệú như thế, lại có thể sống ở Peterburg? Cháu sẽ không bao giờ hiểu được điều đó, hay là cô bị đục nhân mắt và không thấy gì hết?

5. Gửi Alexander II

Thưa Bệ Hạ!

Ngày 6 tháng Bảy, một sĩ quan cảnh sát được chính quyền tự quản địa phương tháp tùng đã đến điền trang của tôi trong khi tôi đi vắng. Trong nhà tôi lúc ấy có một số khách ở chơi trong thời gian nghỉ hè: mấy sinh viên dạy học ở nông thông thuộc khu vực hòa giải [158] mà tôi cai quản, bà cô họ và em gái tôi. Viên sĩ quan tuyên bố với các thầy giáo là họ bị bắt giam, đòi giấy tờ và đồ dung của họ. Cuộc khám xét kéo dài hai ngày; người ta đã lùng sục trường học, các tầng hầm và kho. Theo lời của viên sĩ quan cảnh sát thì đã không tìm ra cái gì khả nghi.

Ngoài sự xúc phạm đến những vị khách của tôi, ngưòi ta đã thấy cần phải xúc phạm cả tôi, bà cô của tôi và em gái tôi. Viên sĩ quan cảnh sát đòi khám phòng làm việc của tôi, lúc ấy là phòng ngủ của em gái tôi. Khi được hỏi trên cơ sở nào ông ấy hành xử như vậy, viên sĩ quan cảnh sát tuyên bố bằng miệng rằng ông ta hành động theo lệnh tối cao. Sự có mặt của các binh lính cảnh sát và các viên chức xác nhận lời của ông ta. Các viên chức đã lùng sục phòng ngủ của em tôi, không bỏ sót một bức thư, không một trang nhật ký nào không được đọc kỹ và trước khi ra về tuyên bố vói những vị khách của tôi và gia đình tôi rằng họ được tự do và đã không tìm được gì khả nghi. Song viên sĩ quan cảnh sát lại nói thêm rằng việc ông ta ra đi tuyệt không được làm chúng tôi yên lòng, ông ấy nói: ngày nào chúng tôi cũng có thể lại đến.

Tôi cho là một việc làm không xứng đáng kể lể với Bệ Hạ về tính oan ức của nỗi xúc phạm mà người ta đã gây cho tôi. Toàn bộ quá khứ của tôi, những quan hệ của tôi, hoạt động công khai tuyệt đối của tôi, trước đây với tư cách quân nhân, bây giờ trong lĩnh vực giáo dục quốc dân, và cuối cùng tạp chí, mà ở đấy được bày tỏ những xác tín tâm huyết của tôi lẽ ra tự chúng, không cần đến những biện pháp phá hoại hạnh phúc và sự bình yên của con người, đã có thể chứng minh cho bất kỳ ai quan tâm đến tôi rằng tôi không thể là kẻ mưu phản, kẻ soạn thảo các truyền đơn, kẻ giết người, kẻ đốt phá. Ngoài sự xúc phạm, sự nghi ngờ phạm tội, ngoài sự làm xấu mặt trong con mắt xã hội và cái cảm giác luôn luôn bị đe dọa, mà với nó tôi từ nay phải sống và hành động, cuộc viếng thăm ấy còn hạ thấp tôi tuyệt đối trong dư luận của công chúng – cái dư luận mà tôi quý giá, mà tôi nhiều năm đã cố gắng xứng đáng với nó và nó cần thiết vô cùng cho tôi trong hoạt động tôi đã chọn – thành lập các trường bình dân.

Tuân theo tình cảm tự nhiên của con người, tôi tìm kiếm kẻ mà có thể cáo buộc về tất cả những gì đã xảy ra với tôi. Tôi không thể buộc tội chính mình: tôi cảm thấy mình có lẽ phải hơn bất cứ bao giờ; kẻ bẩm báo oan, tôi cũng không biết; các viên chức đã xét xử và xúc phạm tôi thì tôi cũng không thể buộc tội: họ nhiều lần nhắc lại rằng tất cả đều được làm không theo ý chí của họ, mà theo lệnh tối cao.

Để có thể luôn luôn có lý cũng như thế trong quan hệ với chính phủ của tôi và với đích thân Bệ Hạ, tôi không thể và không muốn tin vào điều đó. Tôi nghĩ rằng không thể là ý chí của Bệ Hạ để cho những người vô tội bị trừng phạt và những người công chính phải thường xuyên sống trong nỗi sợ bị xúc phạm và sát phạt.

Để biết được cần trách cứ ai trong tất cả những gì đã xảy ra với tôi, tôi quyết tâm liên hệ thẳng với Bệ Hạ[159]. Tôi chỉ cần mong sao cho khả năng trách cứ về sự bất công được gỡ bỏ khỏi cái tên của Bệ Hạ và sao cho những ai có tội trong việc lạm dụng cái tên ấy riếu không bị trừng phạt thì cũng bị vạch mặt.[160]

Thần dân trung thành của Bệ Hạ.

Bá tước Lev Tolstoi.

22 tháng Tám 1862.

Moskva.

6. Gửi P.D.Boborykin!

Tiểu dẫn – Piotr Dmitrievich Boborykin (1836-1921) là nhà văn Nga khá nổi tiếng trong nửa sau thế kỷ XIX, viết nhiều tiểu thuyết về các đề tài xã hội nhiều khi mang tính thời sự nóng bỏng.

Trong thời gian Tolstoi viết Chiến tranh và hòa bình, Boborykin đã gủi tặng những tiểu thuyết đầu tay của mình và xin ý kiến của ông. Từ bức thư phúc đáp dài (và xem ra không gửi) của Tolstoi chúng tôi chỉ trích một đoạn soi sáng một số điểm quan trọng trong thế giới quan của nhà văn.

[Tháng Bảy – Tám 1865]

[…] Cả hai tiểu thuyết của ông đều viết về đề tài hiện đại. Những vấn đề về tự quản địa phương, về văn học, về giải phóng phụ nữa ở ông được đẩy lên hàng đầu với mục đích tranh luận; mà trong thế giới của nghệ thuật thì những vấn đề ấy không những không hấp dẫn tí nào, mà chúng thậm chí còn không tồn tại. Những vấn đề giải phóng phụ nữ và các đảng phái văn học được cho là quan trọng trong giới văn chương Pẹterburg của ông, song tất cả những vấn đề như thế chỉ gợn sóng trong cái vũng nước bẩn nhỏ bé mà những ai bị số phận đặt vào giữa cái vũng ấy lại tưởng là đại dương. Mục đích của nghệ thụật không thể đo sánh (như các nhà toán học nói) với những mục tiêu xã hội.

Mục đích của người nghệ sĩ tuyệt không phải là giải quyết một cách không thể tranh cãi một vấn đề nào đó, mà là khiến mọi ngườỉ yêu mến cuộc sống trong vô vàn biểu hiện không bao giờ cạn kiệt của nó. Giả sử có ai bảo tôi rằng tôi có thể viết nên một cuốn tiểu thuyết mà bằng nó tôi sẽ xác định một cách không thể tranh cãi cái quan điểm mà tôi cho là đúng đắn đối vối tất cả những vấn đề xã hội, thì tôi sẽ không dành dù chỉ hai giờ làm việc cho một tiểu thuyết như thế, nhưng nếu mà người ta bảo tôi rằng cái tôi viết ra trẻ em thời nay sẽ đọc và 20 năm nữa người ta sẽ vẫn đọc, vẫn khóc và cười trên những trang sách của tôi và yếu hơn nữa cuộc sống, thì tôi sẽ dành cho việc ấy toàn bộ cuộc đời và sức lực của mình […]

7. Gửi A.A.Fet

Tiểu dẫn – Afanasi Afanasievich Fet (1820 – 1892) thuộc số những nhà thơ lớn của nước Nga, mà Tolstoi luôn luôn ngưỡng mộ. Cả Fet cũng ngưỡng mộ không kém thiên tài của Tolstoi và đi trước các nhà phê bình đã hiểu đúng giá trị của những bộ tiểu thuyết vĩ đại Chiến tranh và hòa bình và Anna Karenina. Ngoài sự gần gũi tư tưởng, nếp sống giống nhau cũng khiến Tolstoi kết bạn với Fet thân thiết hơn với bất kỳ một nhà vãn Nga nào. Từ hai điền trang cách nhau không xa lắm, hai cặp vợ chồng Tolstoi và Fet hay sang chơi với nhau. Tình bạn giữa hai gia đình kéo dài hơn 25 năm. Hiện còn lưu giữ được 171 thư của Tolstoi gửi Fet và 139 thư của Fet gửi Tolstoi.

[30 tháng Tám 1869]

[..] Anh có biết mùa hè năm nay là gì đối với tôi không? Một sự hâm mộ không ngớt đối với Schopenhauer và một loạt lạc thú tinh thần mà tôi chwua bao giờ trải nghiệm. Tôi đã đặt mua tất cả các tác phẩm của ông ta và đọc đi đọc lại (tôi đã đọc hết cả Kant nữa) và xem ra không một sinh viên nào trong suốt khóa học của mình lại học nhiều đến thế và tìm hiểu được nhiều đến thế như tôi trong mùa hè này.

Không biết có bao giờ tôi sẽ thay đổi ý kiến của mình hay không, nhưng hiện giờ thì tôi tin tưởng sắt đá rằng Schopenhauer là thiên tài nhất trong toàn thể loài người.[161]

Có lần anh nói ông ta viết tàm tạm những gì đó về những đối tượng triết học. Sạo lại tàm tạm và sao lại những gì đó? Đây là toàn bộ thế giới trong sự phản hồi sáng rõ và đẹp phi thường.

Tôi đã bắt đầu dịch ông ta. Liệu anh có cùng dịch không?[162]

Nếu thế chúng ta sẽ in chung. Đọc Schopenhauer, tôi không thể hiểu được vì sao tên tuổi, ông ấy lại không được biết đến lâu thế.[163] Chỉ có một cách giải thích – mà chính ông ta hay nói đi nói lại – rằng trên đời này ngoài những kẻ si ngốc ra thì hầu như chẳng còn ai.

Rất nóng lòng chờ anh sang chơi. Đôi khi thấy khó thở vì nhu cầu không được thỏa mãn – luôn luôn có được bên cạnh mình một linh hồn đồng điệu như anh để thổ lộ tất cả những gì ứ đọng trong lòng. Gửi lời chào thân thiết tới Maria Petrovna.[164]

8. Gửi công tước V.P. Mesherski

Tiểu dẫn – Công tước V.P. Mensherski (1834-1914) là nhà văn và nhà chính luận theo khuynh hướng bảo thủ, chủ nhiệm tuần báo Người công dân (“Grazhdanin”) bắt đầu ra từ năm 1872. Cố gắng nâng cao uy tín tờ báo của mình, Mesherski kiên trì mời mọc nhiều nhà văn hóa Nga, trong đó có Tolstoi, cộng tác với mình. Tolstoi đã từ chối, nhưng Dostoievski do hoàn cảnh khó khan đã nhận lời làm chủ bút cho báo “Người công dân” trong suốt năm 1873. Chính trên tờ báo này Dostoievski bắt đầu đăng những bài chính luận dưới tiêu đề chung Nhật ký nhà văn.

[22 tháng Tám 1871]

[…] Nói thật với ông, tôi căm thù báo chí – đã lâu không đọc và coi chúng là những thiết chế có hại, chuyên sảri xuất ra những loại hoa cánh kép không bao giờ cho quả, làm kiệt quệ một cách vô ích thổ nhưỡng của trí tuệ và thậm chí của cả nghệ thuật. Ý tưởng về khuynh hướng của một tờ báo hay tạp chí theo tôi là sai lầm tệ hại. Lao động trí óc và nghệ thuật là biểu hiện cao nhất của sức mạnh con người và chính nó định hướng cho toàn bộ hoạt động của con người, và không ai có thể định hướng cho nó. Còn nếu tờ báo hay tạp chí chọn làm mục đích cho mình cái lợi ích của phút giây – mà là lợi ích thực tiễn – thì một hoạt động như thế, theo tôi, tụt hậu hàng triệu cây số so với hoạt động trí óc và nghệ thuật đích thực và có quan hệ với sự nghiệp của tư tưởng và thơ ca cũng như những biển quảng cáo có quan hệ với hội họa. . .

Lẽ ra tôi đã không viết tất cả những điều này, nếu mà con người của ông, căn cứ vào bức thư của ông và vào bài báo của ông trong Thư tín Nga mà tôi đã xem qua, và nhất là căn cứ vào dòng dõi của ông[165] không khiến tôi cảm tình đến thế. Chính vì lý do ấy mà tôi xin nói thêm một điều nữa – một lời khuyên cá nhân cho ông – mong ông không giận tôi mà hãy suy nghĩ chút ít về lời khuyên này. Hoạt động báo chí là sự làm đĩ tinh thần mà không có đường hoàn lương. Trong đời mình tôi đã và đang thấy nhiều người đã giết chết mình một cách không thể hồi sinh, và toàn là những người đầy nhiệt huyết, cao quý và lành mạnh về tinh thần, mà tôi xem ông là một trong những người như thế.

Bức thư của ông đã tuôn ra từ trái tim, thư của tôi cũng thế, cho nên ông đừng xét nét nếu nó làm ông phật lòng. Siết chặt tay ông và rất mong được kết bạn với ông.

9. Gửi N.N Strakhov

Tiểu dẫn – Nicolai Nikolaievich Strakhov (1828-1896) là nhà phê bình văn học, nhà chính luận và triết học có tiếng. Trong những năm 60 là cộng sự đắc lực của tạp chí Thời Đại do anh em M.M và F.M Dostoievski xuất bản. Giao du với Dostoievski cho đến khi nhà văn qua đời và đã viết tiểu sử sơ yếu đầu tiên về Dostoievski theo gợi ý của vợ ông. Tuy nhiên từ cuối những năm 60 tỏ ra ái mộ Tolstoi hơn và đã viết bài có giá trị phê bình đầu tiên về tiểu thuyết – sử thi Chiến tranh và hòa bình. Tolstoi nhiều năm giữ quan hệ hữu hảo và trao đổi thư từ nhiều với Strakhov, những bức thư này được in thành sách riêng năm 1914, nhưng từ giữa những năm 80 bắt đầu xa lánh nhà chính luận này, do những dị biệt ngày một lộ rõ hơn trong lập trường tư tưởng.

[13 tháng Chín 1871]

[…] Anh đừng khen tôi quá lời như thế. Thứ nhất bởi vì tôi sẽ (đặc biệt nếu như điều này xảy ra hai năm trước đây) làm điệu làm bộ trước anh, sẽ không tự nhiên, cố gắng giữ được trong con mắt anh cái hình ảnh như tôi hiện ra trước anh trong giờ phút này, thứ hai, những lời khen tác động đến tôi xấu (tôi quá thiên về tin vào sự chính đáng của chúng), và tôi chỉ mới gần đây khó nhọc lắm mới tẩy trừ được ở trong mình tất cả sự u mê ám chướng mà thành công của cuốn sách của tôi[166] đã gây ra trong tôi. Bản thân anh cũng cảm nhận điều đó rất tinh tế. Xưa kia A. Grigoriev[167], để được tắm mình trong bầu không khí ngợi ca, đã tôn tất cả những kẻ cầm bút là thiên tài. Mà đánh lừa tôi về ý nghĩa của văn nghiệp của tôi thì không khó, chính tôi sẽ mừng rỡ được đánh lừa.

Còn đối vối sự bày tỏ mối đồng cảm nơi anh thì tôi xin trả lời: đó là một niềm vui rất lớn cho tôi; bởi vì cũng sự sung sướng mà anh đã trải nghiệm khi bắt gặp ở tôi những quan điểm về cuộc sống hệt như ở anh, cái đó tôi cũng trải nghiệm khi gặp anh. Chỉ trong một điểm chúng ta không bình đẳng: tôi không thể từ bỏ ý nghĩ rằng đã bị mua bằng những lời khen của anh. Sau anh không lâu tôi bắt gặp Tiutchev[168] trên xe lửa và chúng tôi đã nội chuyện 4 tiếng. Tôi nghe nhiều hơn? Anh có quen biết ông ấy không? Đây là một lão trượng và một trẻ thơ thiên tài và oai vệ. Trong những người đang sống, tôi không biết một ai, ngoài anh và ông ấy, mà tôi lại cảm thấy gần gũi như thế trong tình cảm và tư tưởng.

Nhưng trên một độ cao nhất định của tâm hồn thì sự thống nhất trong cách nhìn đời không liện kết chúng ta cho những mục đích trần thế, như vẫn diễn ra trong những lĩnh vực hoạt động thấp hơn, mà vẫn để lại từng người độc lập và tự do. Điều ấy tôi đã trải nghiệm với anh và với Tiutchev. Chúng ta nhìn thấy như nhau những gì ở dưới và xung quanh ta; nhưng chúng ta là ai, ta sống để làm gì và bằng cái gì và sẽ đi đến đâu, chúng ta không thể biết và không thể nói cho nhau, và chúng ta xạ lạ với nhau hơn là những đứa con của tôi xa lạ với tôi và thậm, chí với anh. Nhưng sung sướng làm sao bắt gặp trên con đường vắng tanh vắng ngắt đôi kẻ đồng hành xa lạ. Đấy, chính niềm vui như thế tôi đã cảm thấy khi gặp anh và Tiutchev. […]

Tôi tin chắc rằng thiên chức của anh là hoạt động triết học thuần túy. Tôi nói thuần túy theo nghĩa thoát ly thời hiện tại; nhưng tôi không nói thuần túy theo nghĩa từ bỏ lối giải thích vạn vật theo tinh thần thơ ca, tôn giáo. Bởi vì triết học thuần túy trí não là một sản phẩm quái dị của phương Tây; chứ cả người Hy Lạp – Plato, cả Schopenhauer, cả các nhà tư tưởng Nga đều không quan niệm như thế. […]

Có điều anh hãy từ bỏ cái hoạt động báo chí đàng điếm đi. Tôi kể cho anh về mình: chắc anh cũng cảm thấy, như tôi từng cảm thấy thời ấy, khi còn sống như anh (trong cảnh lăng xăng nhộn nhạo), rằng chỉ thỉnh thoảng, mấy tháng một lần mới có được những giờ phút tự do và tĩnh lặng, khi mà xung quanh ta từ từ được thiết lập một bầu không khí không gì khuấy động của riêng ta, và trong bầu không khí ấy – tất cả những hiện tượng của cuộc sống bắt đầu tự sắp xếp như chúng phải là như thế và là thế đối với ta; và ta lại cảm thấy mình và những sức lực của mình như một con người mệt lử sau khi được tắm. Và chính trong những giây phút ấy thực sự muốn làm việc cho mình (không phải cho những người khác) và cảm thấy hạnh phúc bởi một ý thức về mình, vớỉ những sức lực của mình và đôi khi bởi công việc của mình nữa […] Đấy, chính điều đó tôi mong muốn cho anh.

10. Gửi A.A. Tolstaya

[15 – 30 ? tháng Chạp 1874]

Cháu đã nhận được lá thư cuối cùng, đáng yêu đến thế của cô […] Bằng tất cả tâm hồn cháu vui mừng thấy cô lại bắt tay vào cống việc bị bỏ dở và dù nó có xa lạ với cháu đến đâu, cháu vẫn cảm thông, như luôn luôn cảm thông với thái độ của cô đối với việc ấy[169]. Cô nói tất cả chúng ta đều quay cuồng như con sóc trong bánh xe. Dĩ nhiên rồi. Nhưng không nên nói và nghĩ như thế. Riêng cháu thì ít nhất, dù cháu có làm gì, cháu luôn luôn quan niệm đinh ninh rằng du haut de ces pyramides 40 siècles me contemplent[170] và cả thế giới sẽ bại vong nếu cháu dừng lại.

Thực tình mà nói, đằng ấy vẫn luôn luôn có một con quỷ nhỏ vừa nheo mắt vừa nói rằng tất cả chỉ là sự giã nước, nhưng cháu không cho, mà cô cũng đừng cho nó lộng hành. Vả lại, chỉ cần công việc dính dáng đến linh hồn của con người và có thể yêu mến những người mà vì họ ta lao động thì con quỷ nhỏ đã không thể thuyết phục được chúng ta rằng tình yêu là điều vô nghĩa. Cháu giờ đây toàn bộ đã nhảy từ sư phạm học trừu tượng sang công việc một mặt vừa thực tiễn, mặt khác lại vừa trừu tượng nhất – tổ chức hệ thống trường học trong huyện của cháu[171]. Và cháu lại đem lòng yêu mến, như 14 năm trước đây, hàng ngàn đứa trẻ mà cháu có quan hệ công việc. Cháu hỏi tất cả mọi người vì sao chúng ta muốn đem học thức đến cho nhân dân; và đã có 5 câu trả lời.

Có dịp cô cho biết câu trả lời của mình nhé. Còn câu trả lời của cháu là thế này. Cháu không suy luận nhưng mỗi khi cháu bước vào trường học và nhìn thấy cơ man những đứa trẻ rách rưới, bẩn thỉu, gầy guộc ấy, vói những cặp mắt sáng láng và rất nhiều khi với những vẻ mặt của thiên thần, thì một cảm giác lo âu và kinh hãi ập đến cháu, tựa như trông thấy những người đang chết đuối. Ôi, cha mẹ ơi, làm sao kéo lên được, và biết kéo ai trước, ai sau. Và đang chết đuối cái đáng quý nhất, chính cái chất tinh thần hay đập vào mắt ta đến thế ở các trẻ em. Cháu muốn học thức cho nhân dân chỉ để cứu sống giữa họ những Puskin, Ostrogradski, Filaret, Lomonosov hiện đang đắm chìm[172]. Mà chúng nhiều lắm ở mỗi một trường. Và công việc của cháu đang tiến triển tốt, rất tốt. Cháu thấy cháu đang làm công việc đáng làm và tiến bộ nhanh hơn nhiều so với mong đợi. Cháu hết lòng mong muốn sao chọ công việc của cô cũng suôn sẻ như của cháu thời gian gần đây. […]

11. Gửi A.A. Tolstaya

[20… 23 tháng Ba 1876]

[…] Cháu rất biết ơn cô về việc cô thường xuyên cầu nguyện cho cháu. Mặc dù cháu không thể tin vào tính hữu hiệu của sự nguyện cầu, cháu vẫn mừng vì cái đó chứng tỏ tình thương yêu gắn bó cô với cháu, và mặc dù cháu không tin, cháu vẫn không thể nói rằng sự nguyện cầu ấy chắc chắn vô bổ. Mà cũng có thể là thế. Vô luận thế nào đi nữa, cháu càng suu nghĩ thì lại càng ít có thể có đức tin, vằ nếu mà cháu sẽ đến với nó thì chỉ nhờ phép lạ. Vì vậy xin cô đừng thuyết phục cháu nữa. Cháu suy nghĩ không ngớt về những vấn đề ấy, về ý nghĩa của sự sống và cái chết, và suy nghĩ nghiêm túc như có thể suy nghĩ – điều ấy là không thể hồ nghi. Và bằng mọi tâm lực cháu mong muốn nhận được những giải đáp cho những câu hỏi giày vò cháu và không tìm thấy trong triết học – cái đó cũng không thể hồ nghi; nhưng để cháu có thể có đức tin – điều đó cháu lại thấy là không thể.

Cô đã đọc tiểu sử Pascal chưa – Blaise Pascal với Penseés của ông ấy[173]. Đây là cuốn sách tuyệt diệu, và cuộc đời của ông ta cũng là như thế. Cháu không biết một thánh truyện nào hay hơn.

12. Gửi A.A Fet

[28 … 29 tháng Tám 1876]

Tôi đã nhận được thư của anh, Afanasi Afanasievich thân quý […]. Cảm ơn anh về ý tưởng gọi tôi đến chứng kiến anh sẽ ra đi như thế nào được bày tỏ trong lúc anh nghĩ rằng việc ấy đến nơi rồi. Tôi cũng sẽ làm như thế, khi sắp sửa đi về nơi ấy, nếu lúc đó tôi còn sức để nghĩ. Các cha cố mà những bà vợ của chúng ta sẽ gọi đến vào giây phút ấy sẽ không giúp được gì chúng ta đâu; nhưng trong giây phút ay tôi sẽ không cần đến một ai như cần đến anh và người anh trai của tôi.

Trước khi tắt thở thật quý hóa và sung sướng được giao lưu với những người mà trong cuộc đời này biết nhìn ra bên ngoài nó, mà anh cùng những con người thực thụ hiếm hoi mà tôi được biết trong đời mình, mặc dù có thái độ rất lành mạnh đối với cuộc sống, luôn luôn đứng ở ngay trên bờ vực và trông thấy rõ mồn một cuộc sống chỉ bởi vì các anh lúc thì nhận ra niết bàn, cái vô tận vô biên, cái bất khả tri, lúc thì nhận ra cõi luân hồi, và sự nhận ra niết bàn ấy củng cố thị lực của các anh. Còn người đời – những cha cố, v.v… dù họ có nói nhiều đến đâu về Thiên Chúa, đều khó chịu đối vói anh em ta và chắc họ sẽ làm khổ chúng ta lắm vào lúc lâm chung bởi vì họ không thấy cái mà chúng ta thấy – cụ thể là một Thiên Chúa không xác định đến mức như thế, xa xôi hơn, nhưng cao cả và bất khả nghi hơn nhiều.

Thiên Chúa Sabaoth với con trai, Thiên Chúa của các cha cố là một Thiên Chúa cũng nhỏ bé, dị quái và bất khả thể, và còn bất khả thể hơn là một Thiên Chúa của loài ruồi mà lũ ruồi hình dung cho mình như một con ruồi khổng lồ chỉ lo lắng cho sự an khang và tu chính của đồng loại.

Anh đang đau ốm và suy nghĩ về cái chết, còn tôi thì khỏe mạnh song cũng không ngớt nghĩ về cái đó và chuẩn bị cho nó. Hãy xem ai đi trước nhé. Có điều từ nhiều dữ liệu khác nhau khó thấy được tôi bỗng cảm nhận được cái bản chất – linh hồn của anh thân thuộc sâu sắc với tôi và lại càng thấy quý giá hơn quan hệ của chúng ta.

Thế nhưng –

Mourir vient de soi – même

N’en avons point souci

Bien vivre est le problème

Qu’il faut résoudre ici.[174]

Mà cũng không thể khác được […]

13. Gửi N.N. Strakhov

[12 -13 tháng Mười Một 1876]

Nilolai Nikolaievich thân mến, anh thật là người bạn tốt. Bất chấp sự im lặng của tôi, anh vẫn tiếp tục đem lại niềm vui cho tôi bằng những bức thư của mình. Để biện minh cho sự im lặng của mình, tôi phải nói một chút về bản thân. Từ Samara và Orenburg về nhà đã hai tháng (mà tôi đã có một chuyến đi tuyệt vời)[175], tôi cứ nghĩ sẽ bắt tay ngay vào việc hoàn thành cái công việc đã trở nên gánh nặng đối với tôi – cuốn tiểu thuyết[176] – rồi sẽ bắt đầu một cái gì đó mới; nhưng bỗng nhiên thay vì tất cả cái đó cho đến nay tôi vẫn chưa làm được gì. Tôi đang say giấc tinh thần và không thể thức tỉnh.

Thấy người không khỏe, buồn nản. Thất vọng về sức lực của mình. Không biết số phận dành cho tôi cái gì, nhưng sống nốt cuộc đời mà không quý trọng nó là nỗi khổ ghê gớm, mà sự quý trọng ấy chỉ đến với tôi nhờ một dạng lao động nhất định. Còn hiện giờ thì ngay suy nghĩ tôi cũng không có sức. Hoặc là tồi tệ tuyệt đối rồi, hoặc là một giấc ngủ trước một giai đoạn làm việc tốt. Hiện giờ tôi tự mình không suy nghĩ được, nhưng vẫn hiểu được, đặc biệt hiểu anh và toàn tâm toàn ý chúc anh hoàn thành công trình của mình.[177] Tôi đã mấy lần đọc lại nó và đọc cho cả Fet nghe và chúng tôi đã hiểu và đồng tình với những tư tưởng của anh như là chúng tôi hiểu. Chỉ có một điều, một câu hỏi: nhận thức chân chính là gì, bất giác đòi hỏi được trả lời.

Nhận thức chân chính, theo tôi và tôi tin theo anh cũng thế, nhưng anh sẽ diễn đạt tốt hơn, có được nhờ trái tim, tức là nhờ tình yêu. Chúng ta hiểu biết được cái gì mà ta yêu, và chỉ thế thôi.

Câu hỏi cuối cùng của anh trong trao đổi triết lý giữa chúng ta là: cái ác là gì? Tôi có thể trả lời cho mình. Còn những minh giải thì tôi để dành cho một dịp khác, hy vọng, vào lễ giáng sinh. Vợ chồng tôi mơ ước anh lại về chơi với chúng tôi nhé! Như vậy câu trả lời là như sau: cái ác là tất cả những gì có lý. Sự giết người, sự cướp bóc, sự trừng phạt – tất cả đều có lý, đều dựa trên những kết luận logic. Sự tự hy sinh, tình yêu – là vô lý. […]

14. Gửi William Ralston

Tiểu dẫn – William Ralston (1828 — 1889) là nhà phê bình văn học người Anh, một trong những người nhiệt tình quảng bá văn học Nga ở Anh. Tháng chín năm 1878 Ralston viết thư cho Tolstoi, thông báo về dự định viết một bài giới thiệu dài về tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình và đề nghị nhà vãn Nga cho biết những nét chính về tiểu sử của mình, thời ấy còn chưa được mấy người biết đến ở phương Tây. Tolstoi đã từ chối, như có thể thấy trong thư dưới đây. Song Ralston qua Turgevev vẫn tìm hiểu được khá kỹ về cuộc đời và sáng tác của Tolstoi và đã sử dụng những tư liệu ấy trong bài viết dài Những tiểu thuyết của bá tước Tolstoi đãng trên tạp chí Anh Nineteenth Century, tháng tư 1879. Đây là một trong những bài giới thiệu dài đầu tiên về Tolstoi trong báo chí Tây Âu.

Thư được viết bằng tiếng Anh.

[ 27 tháng Mười 1878 ]

Thưa quý ông nhân từ,

Tôi rất lấy làm tiếc là không thể phúc đáp thư của ông một cách tích cực. Vấn đề là tôi rất hồ nghi tôi là một nhà văn có ý nghĩa đến mức mà những sự kiện cuộc đời của tôi có thể khiến không chỉ công chúng Nga, mà còn cá công chúng châu Âu quan tâm. Bằng biết bao nhiêu ví dụ về những văn sĩ mà người cùng thời ban đầu rất đề cao nhưng sau đó ngay sinh thời đã bị lãng quên hoàn toàn, tôi được thuyết phục rằng những người cùng thời không thể phán xét đúng đắn về phẩm giá của các tác phẩm văn học. Vì vậy, bất chấp mong muốn của mình, tôi không thể chia sẻ ảo tưởng nhất thời của một số bạn bè khẳng định một cách chắc chắn rằng những sáng tác của tôi sẽ phải chiếm giữ một vị trí nào đó trong văn học Nga. Tôi hoàn tpàn thành tâm không biết một trăm năm nữa có ai sẽ đọc những sáng tác của tôi hay chúng sẽ bị lãng quên chỉ sau một trăm ngày, cho nên tôi không muốn rơi vào tình cảnh nực cười, do sự đánh giá rất có thể là sai lầm nơi những người bạn của tôi.

Với hy vọng ông sẽ lưu tâm đến những lý do ấy và sẽ rộng lòng tha thứ cho sự khước từ nơi tôi.

Mãi mãi chân thành trung tín với ông.

Bá tước L. Tolstoi

15. Gửi N.N. Strakhov

[5-10? Tháng Hai 1881]

Tôi vừa nhận được thư anh[178], Nilolai Nikolaievich thân mến, và vội viết trả lời.

Tôi ao ước làm sao có năng lực bày tỏ tất cả những gì mà tôi cảm thấy đối với Dostoievski. Diễn tả tình cảm của mình, anh đã thể hiện cả tình cảm của tôi. Tôi chưa bao giờ gặp con người ấy và chưa bao giờ có quan hệ trực tiếp với ông ta, nhưng bỗng nhiên, khi ỏng ta qua đời, tôi ngộ ra rằng đây là con người gần gũi, quý giá và cần thiết nhất cho tôi. Tôi là kẻ viết văn, mà mọi kẻ viết văn đều hiếu danh và đố kỵ ít nhất tôi là như thế. Nhưng với ông ấy tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc so sánh mình. Tất cả những gì ông ấy làm (những gì tốt đẹp, chân chính mà ông ấy làm) đều là những cái mà ông ấy càng làm được nhiều hơn thì lại càng tốt hơn cho tôi.

Nghệ thuật gây ra trong tôi niềm ganh tị; trí tuệ cũng thế, nhưng công việc của trái tim thì chỉ một niềm vui. Tôi vẫn xem ông ta là người bạn của mình, và không thể nghĩ một cách nào khác mà chỉ là thế nào chúng tôi cũng sẽ gặp nhau, có điều bây giờ chưa tiện thôi, chứ còn cái đó là của tôi. Thế mà đột nhiên, trong lúc ăn trưa – tôi ăn một mình, về nhà muộn – tôi đọc: đã qua đời. Một điểm tựa nào đó bứt khỏi tôi. Tôi hoảng hốt, rồi sau đó nhận ra ông ấy quý giá như thế nào cho tôi và tôi òa lên khóc và bây giờ vẫn khóc.

Cách đây mấy ngày, trước khi ông ấy mất, tôi đọc Những người tủi nhục[179] và mủi lòng […]

16.Gửi Alexander III

Tiểu dẫn – Ngày 1 tháng Ba nãm 1881 hoàng đế Nga Alexander II, được gọi là Người Giải Phóng đo ông đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ nông nô (1861), bị những người cách mạng ám sát. Vụ ám sát Sa hoàng này đã kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực trong lịch sử cận đại Nga. Trong những ngày cả xã hội Nga đang chờ đợi quyết định của tòa án đặc biệt xét xử những người phạm tội, Tolstoi đã cố gắng bằng nhiều đường đưa đến tận tay Sa hoàng mới, Alexander III, bức thư này, đề nghị ân xá cho những người cách mạng phạm tội. Theo lời của vợ nhà văn, Alexander III “đã lệnh truyền đạt cho bá tước Tolstoi rằng giả sử vụ ám sát được thực hiện chống, lại Ngài thì ngài có thể ân xá, nhưng Ngài không thể tha thứ cho những kẻ đã giết chết thân phụ của mình.”

Hiện nay chỉ còn lưu giữ được bân nháp của bức thư.

[Yasnaya Polyana, 8-15 tháng Ba 1881]

Thưa bệ hạ,

Tôi, một con người nhỏ bé, không có danh vọng, yếu đuối và xấu xa, đặt bút viết thư cho hoàng đế Nga, khuyến dụ ngài nên làm gì trong những hoàn cảnh phức tạp và khó khăn nhất như chưa từng có bao giờ. Tôi tự cảm thấy điều này kỳ quặc, khiếm nhã, táo tợn đến đâu, song tôi vẫn viết. Tôi tự nhủ: nếu mi viết và bức thư của mi sẽ là không cần thiết thì nó sẽ không được đọc, còn nếu nó sẽ được đọc và sẽ bị cho là có hại, thì mi sẽ bị trừng phạt. Đấy là tất cả những gì có thể xảy ra. Và trong tất cả cái đó sẽ không gì khiến mi phải hối hận. Còn nếu mi không viết rồi sau đó được biết rằng đã không một ai nói với hoàng thượng cái mà mi muốn nói, và khi mà đã không thể thay đổi một cái gì, hoàng thượng sẽ nghĩ và nói: giá mà lúc ấy một ai đó tâu với ta điều đó! Nếu thế, thì mi sẽ suốt đời hối hận rằng đã không viết cái mà mi suy nghĩ. Vì vậy mà tôi viết cho bệ hạ những gì tôi suy nghĩ.

Tôi viết từ làng quê hẻo lánh, tôi không biết một cái gì chắc chắn. Những gì tôi biết, tôi được biết từ báo chí và từ những tin đồn, và vì vậy có thể tôi sẽ viết ra những điều vớ, vẩn, không cần thiết về những thứ tuyệt không tồn tại, nếu thế thì vì Thiên Chúa, xin bệ hạ tha thứ cho sự tự tin thái quá của tôi và tin rằng tô viết không phải vì quan niệm về mình quá cao mà chỉ bởi vì, đã có lỗi đến thế trước tất cả mọi người, tội sợ sẽ còn có lỗi hơn nữa nếu không làm cái mà tôi có thể và cần phải làm.

(Tôi sẽ viết không theo cái lối mà các đơn sớ dâng các bậc quân vương đươc viết – với những hoa hòe hoa sói của thuật hung biện khúm núm và giả tạo, chúng chỉ làm mờ tôi đi cả tình cảm lẫn tư tưởng. Tôi sẽ viết giản dị, như một con người viết cho một con người. Những tình cảm quý trọng thực sự của tôi đối với bệ hạ như là một con người và một hoàng đế sẽ được thấy rõ hơn khi không có những vật trang trí ấy).

Thân phụ của bệ hạ, một hoàng đế Nga đã làm nhiều điều thiện và luôn luôn mong muốn những điều thiện cho mọi thần dân, một ông già đôn hậu, đã bị làm tàn tật và bị giết hại một cách bất nhân không bởi những kẻ thù cá nhân của ngài, mà bởi những kẻ thù của trật tự sự vật hiện hữu; ngài đã bị giết vì một lợi ích cao cả nào đó của toàn nhân loại. Bệ hạ đã thế vị thân phụ mình và trước mắt bệ hạ cũng vẫn những kẻ thù ấy, từng đầu độc cuộc sống của thân phụ bệ hạ[180] và cuối cùng đã sát hại ngài. Họ là những kẻ thù của bệ hạ bởi vì bệ hạ đang giữ vị trí của thân phụ bệ hạ, và vì cái lợi ích chung hư ảo mà họ tìm kiếm, họ sẽ phải mong muốn sát hại cả bệ hạ.

Đối với những người ấy, những kẻ đã giết chết cha mình, trong lòng bệ hạ chắc phải có khát vọng trả thù và đồng thời một cảm giác kinh hoàng trước cái nghĩa vụ mà bệ hạ đã phải lĩnh nhận cho mình. Không thể hình dung được một tình cảnh đáng sợ hơn, bởi vì không thể hình dung được một mối cám dỗ nào của cái ác mãnh liệt hơn. Những kẻ thù của tổ quốc, của nhân dân, những tên nhãi con đáng khinh, phường vô lại bất tín đang đe dọa sự yên bình và cuộc sống của hàng triệu người được giao phó cho ta và là những kẻ đã giết cha ta. Có thể làm một cái gì khác với chúng nếu không phải là quét sạch cái ổ truyền nhiễm ấy khỏi đất Nga, nếu không phải là giẫm nát chúng, như những con côn trùng độc hại. Không phải tình cảm cá nhân của ta nữa, thậm chí không phải sự cần thiết trả thù cho cha, mà là nghĩa vụ của ta đòi hỏi cái đó và cả nước Nga đang chờ đợi điều đó ở ta.

Đấy, tình cảnh đáng sợ của bệ hạ ở chính mối cám dỗ ấy. Song cho dù chúng ta có là ai, là những đế vương hay những mục tử, chúng ta đều là những rigười được khai sáng bởi học thuyết của Đức Kitô.

Tôi không nói về những bổn phận của bệ hạ, về việc thực hiện những bổn phận của Sa hoàng, những nghĩa vụ của đế vương, mà sẽ chỉ hỏi về sự thực hiện những bổn phận của con người. Tình cảnh của bệ hạ thật đáng sợ, song thực ra học thuyết của Kitô chỉ cần thiết để hướng đạo chúng ta trong những giây phút khủng khiếp của sự cám dỗ được số phận định cho con người. Số phận đã định cho bệ hạ một cám dỗ ghê gớm nhất. Nhưng dù nó có ghê gớm đến đâu, học thuyết của Kitô vẫn phá tan nó, và tất cả các lưới bẫy bao bủa bệ hạ sẽ tung bay như bụi, trước con người thực hiện, ý chí của Thiên Chua. Matt.5,45:

“Các người đã nghe được nói rằng: hãy yêu thương đồng loại và căm ghét kẻ thù của mình; nhưng tôi nói với các người: hãy yêu thương kẻ thù của mình… hãy làm phúc cho những những kẻ căm thù các người – và các người sẽ là con của Cha của các người trên trời.” 38: “Đã được nói cho các người: mắt đền mắt, răng đền răng, nhưng tối nói: đừng chống lại điều ác.” Matt,18, 20: “Tôi không bảo ngươi7 lần, mà phải 70×7 lần. Đừng căm ghét kẻ thù, mà hãy làm phúc cho nó, đừng chống lại điều ác, đừng mệt mỏi trong việc tha thứ. Cái đó đã được nói cho con người, và bất kỳ ai cũng có thể làm được.

” Và không một lý do đế chế hay quốc gia nào có thể cho phép vi phạm những giới luật ấy. 5,19: “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong vương quốc của Chúa Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế thì sẽ được gọi là lớn trong vương quốc của Chúa.” 7,24: “Ai nghe những lời tôi nói đây mà đem ra thực hành thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không bị sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn bất cứ ai…” Vĩ đại làm sao!

Tôi biết thế giới mà chúng ta đang sống xa cách biết bao với những chân lý thần thánh được diễn đạt trong giáo thuyết của Kitô, nhưng chân lý vẫn là chân lý và nó sống trong trái tim chúng ta và khơi gợi trong ta niềm ngưỡng mộ và mong ước nhích lại gần với nó. Tôi biết rằng đối với tôi, một kẻ hèn mọn, tồi tệ, khi gặp những cám dỗ nhẹ yếu hơn gấp 1.000 lần so với những gì đang trút xuống bệ hạ đã từng tuân theo không phải cái chân và cái thiện, mà cái cám dỗ – đối với tôi, một kẻ đa tội, sẽ là hỗn láo và điên rồ đòi hỏi ở bệ hạ một sức mạnh tinh thần chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi bệ hạ, một hoàng đế Nga và một người con yêu kính người cha bị giết hại, phải bất chấp áp lực của những người xung quanh mà tha thứ cho những kẻ sát nhân, lấy thiện trả ác.

Nhưng tôi không thể không mong muốn điều ấy, không thể không thấy rằng mỗi một bước của bệ hạ đi đến sự tha thứ là một bước đi đến với cái thiện, còn mỗi một bước đi đến sự trừng phạt là một bước đi đến với cái ác – cái đó tôi không thể không thấy. Và tựa như trong những phút giây yên tĩnh, khi không có sự cám dỗ, tội vẫn hy vọng và bằng mọi tâm lực ao ước chọn lựa cho bản thân con đường của tình yêu và cái thiện, cũng như thế tôi mong ước cho bệ hạ và không thể không kỳ vọng rằng bệ hạ sẽ ao ước trở nên hoàn thiện như Cha của chúng ta trên trời hoàn thiện và sẽ làm được một việc vĩ đại nhất trên đời, sẽ chiến thắng mọi cám dỗ và với tư cách một hoàng đế Nga sẽ nêu cho thế giới một gương sáng lớn nhất về sự thực hành học thuyết của Kitô – lấy điều thiện để đáp trả lại cái ác.

Bệ hạ hãy lấy thiện trả ác, hãy đừng chống lại cái ác, hãy tha thứ cho mọi người.

Điều đó và chỉ điều đó là cần làm, đó là ý nguyện của Thiên Chúa. Ai có đủ sức và ai không có đủ sức làm điều đó, đấy lại là chuyện khác rồi. Nhưng cần phải mong muốn chỉ một cái đó, hướng tới chỉ một cái đó, xem chỉ một cái đó là tốt lành và biết rằng tất cả mọi suy xét chống lại điều đó đều là những thử thách và cám dỗ, tất cả những lập luận chống lại ấy đều không có căn cứ nào hết, đều bấp bênh và mờ ám.

Nhưng không những từng con người một không thể và không được chọn một cái gì khác làm kim chỉ nam cho đời sống của mình, ngoài những biểu hiện ấy của ý chí tối cao, mà sự thực hiện những điều răn ấy của Chúa đồng thời còn là một việc làm hữu lý hữu tình nhất của đời sống của bệ hạ và của các thần dân của bệ hạ. Chấn lý và thiện phúc luôn luôn là chân lý và thiện phúc cả trên mặt đất lẫn trên trời. Tha thứ cho những kẻ đã phạm tội tày trời chống lại những lề luật nhân định và thiên định và lấy thiện trả ác trong đối xử với chúng – nhiều người trong trường hợp tốt nhất sẽ cho là duy tâm, là điên rồ, và sẽ còn nhiều người hơn cho là một khuyến nghị có ác ý. Họ sẽ hói: “Không được tha thứ, mà phải quét sạch những thứ thối bẩn ấy đi, dập tắt ngay ngọn lửa.” Nhưng chỉ cần thách đố những người nói như thế chứng minh những ý kiến của họ, thế thì sự điên rồ và ác ý té ra sẽ ở phía họ.

Ở ta khoảng 20 năm trước đây đã xuất hiện một ổ người, đa phần là những thanh niên thù ghét trật tự sự vật hiện hữu và nhà cầm quyền. Những người ấy chủ trương một trật tự sự vật nào đó khác, hoặc thặm chí chẳng chủ trương một cái gì mà chỉ bằng mọi phương tiện vô đạo, bất nhân, bằng những cuộc hỏa hoạn, cướp giật, ám sát ra sức phá hoại chế độ xã hội hiện hành. Đã 20 năm người ta đấu tranh với cái ổ ấy. Tựa hồ một ổ vi khuẩn, luôn luôn sản sinh ra những tác nhân mới, cái ổ này cho đến nay vẫn không những chưa bị tiếu diệt mà còn ngày một lớn mạnh, và những con người ấy đã đi đến những hành vi khủng khiếp nhất về tính tàn ác và táo tợn, làm rối loạn đời sống quốc gia.

Những người muốn đấu tranh vởi cái ung nhọt này bằng những phương tiện ngoại giới, ngoại tại đã áp dụng hai phương pháp: một là cắt bỏ trực tiếp cái phần rữa nát, trừng trị nghiêm khắc; cách thứ hai là để cho căn bệnh tự diễn biến, chí điều chỉnh nó. Đó là những biện pháp nới rộng tự do mà sẽ phải thỏa mãn một phần những phần tử bất an, làm dịu đi sức tấn công của các thế lực thù địch. Đối với những ai xem xét vấn đề từ phương diện vật chất thì không có con đường nào khác – hoặc cương quyết ngăn chặn, hoặc nới rộng tự do.

Cho dù người ta có là ai và có tập hợp ở đâu để bàn thảo về việc cần làm những gì trong tình huống hiện nay, dù họ là những người quen biết nhau trong một xalông hay là những ủy viên của một hội đồng, hay là những hội nghị đại biểu, hễ nói đến những gì phải làm để diệt trừ cái ác, thì sẽ không ai vượt ra ngoài hai cách nhìn đối tượng: hoặc ngăn chặn – mọi sự bằng biện pháp nghiêm ngặt: hành quyết, phát lưu, cảnh sát, thắt chặt kiểm duyệt, v.v… hoặc những nhân nhượng tự do chủ nghĩa – những quyền tự do, những hình phạt giơ cao đánh khẽ, thậm chí cả thể chế đại diện, hiến pháp.

Người ta còn có thể nói nhiều điều mới hơn nữa xung quanh những tiểu tiết của kiểu hành động này hay kiểu hành động kia; về nhiều điều ngay những người trong một phe cũng sẽ không đồng thuận và sẽ tranh luận với nhau, nhưng cà những người này lẫn những người kia đều sẽ không ra khỏi hai phương sách của mình – hoặc tìm kiếm những phương tiện ngăn chặn cái ác bằng bạo lực, hoặc tìm cách không bóp chết phong trào mà để cho nó tự hết hơi. Một số ngừời sẽ chữa bệnh bằng những biện pháp trị bệnh quyết liệt nhất, những người khác sẽ chữa không phải căn bệnh, mà chủ trương đặt cơ thể vào trong những điều kiện vệ sinh thuận lợi nhất, hy vọng bệnh sẽ tự qua đi.

Rất có thể là cả những người này lẫn những người kia sẽ phát hiện nhiều tiểu tiết mới, nhưng họ sẽ không nói ra được cái gì mới, bởi vì cả phương pháp này lẫn phương pháp kia đều đã được áp dụng nhiều lần và cả hai đều không chỉ không chữa lành người bệnh mà còn chẳng có một tác dụng gì. Căn bệnh vẫn tiếp diễn cho đến tận hôm nay và chỉ ngày một trầm trọng hơn. Vì vậy mà tôi cho rằng không nên tiên quyết xem sự thực hiện ý chí của Chúa trong những công việc chính trị là mơ ước viển vông và điên rồ. Nếu thậm chí chỉ xem sự thực hiện luật Chúa như là phương tiện chống lại cái ác đời thường, trần thế, thì vẫn không được coi thường phương tiện ấy sau khi toàn bộ sự khôn ngoan đời thường đã tỏ ra bất lực.

Bệnh nhân đã từng được chữa bằng các thứ thuốc mạnh, rồi bằng cách không dùng thuốc mạnh nữa mà để cho bệnh tự diễn biến, nhưng tất cả đều vô tác dụng và người bệnh ngày một ốm nặng hơn. Nhưng còn có một phương tiện nữa mà các thầy thuốc không biết tí gì, một phương tiện lạ lùng. Nhưng tại sao lại không thử? Phương tiện này có một ưu thế bậc nhất, không thể tước bỏ so với những phương tiện khác – đó là trong khi chúng đã bao lần được áp dụng vô hiệu, phương tiện này lại chưa được áp dụng bao giờ.

Người ta đã thử, vì sự cần thiết của quốc gia, vì lợi ích của quần chúng trấn áp, hành quyết, đày ải và cũng đã thử cũng vì sự cần thiết ấy và lợi ích ấy mà nới rộng tự do – nhưng tất cả vẫn y nguyên. Thế thì tại sao lại không vì Thiên Chúa thử áp dụng chỉ một luật của Ngài mà không nghĩ gì đến cả quốc gia lẫn lợi ích của quần chúng? Hành động vì Chúa và để thực hiện luật của Ngài thì sệ không thể gây ra một cái gì tai ác.

Một ưu thế nữa, và cũng không thể hồ nghi, của phương tiện mới, đó là cả hai phương tiện kia tự bản thân chúng đều là không tốt: nếu phương tiện thứ nhất tựu trung là bạo lực, là trừng phạt (dù nó có có vẻ công bằng đến đâu, ai ai cũng biết nó là điều ác), thì phương tiện thứ hai thực ra là sự dung túng không thật lòng. Chính phủ một tay nới rộng tự do, tay khác thắt bóp. Sự áp dụng cả hai phương sách, dù chúng có được xem là hữu ích đến đâu cho nhà nước, đều là một việc làm không tốt cho những người thực thi. Còn phương sách mới thì không chi thích hợp với nhân tâm, mà còn đem lại niềm vui và hạnh phúc cao nhất cho tâm hồn con người. Sự tha thứ và sự lấy thiện trả ác là cái thiện tự thân tự tại. Vì thế mà sự áp dụng hai phương sách cũ, trái ngược với tâm thức Kitô giáo, tất yếu để lại sự sám hối, còn sự tha thứ thì mang lại niềm vui cao nhất cho những ai thực hiện nó.

Ưu thế thứ ba của sự tha thứ theo tinh thần Kitô giáo so với sự đàn áp hoặc hữu ý dung túng những phần tử độc hại liên quan đến thời điểm hiện nay và có tầm quan trọng đặc biệt. Tình huống của bệ hạ và của nước Nga hiện nay tựa như tình huống của một bệnh nhân trong thời điểm khủng hoảng. Chỉ một bước đi sai lầm, chỉ một liều thuốc không cần thiết hoặc có hại là có thể giết chết vĩnh viễn người bệnh. Cũng hệt như thế, hiện giờ chỉ cần một hành động theo hướng này hay hướng kia: hoặc trả thù tội ác bằng những hành quyết tàn bạo, hoặc triệu tập (hội nghị) dân biểu – thế là có thể thăt lại toàn bộ tương lai. Giờ đây, trong vòng hai tuần tới của cuộc xét xử và kết án các tội nhân, sẽ được thực hiện một bước đi thể hiện sự lựa chọn một trong ba con đường ờ ngã rẽ trước mắt: con đường trấn áp cái ác bằng cái ác, con đường nới rộng tự do – cả hai con đường đều đã được thử nghiệm và đều không đưa đến đâu cả; và còn một con đường nữa, mới mẻ – con đường thực hiện ý nguyện của Thiên Chúa bởỉ một đế vương với tư cách một con người.

Thưa bệ hạ! Do những hiểu lầm nào đó oan khốc và khủng khiếp, trong lòng những người cách mạng đã ăn sâu một mối câm thù kinh khủng đối với thân phụ của bệ hạ – mối căm thù ấy đã đẩy họ đến cuộc ám sát khủng khiếp. Nhưng mối căm thù ấy có thể được chôn vùi cùng với sự an táng thân phụ của bệ hạ. Những người cách mạng có thể – mặc dù bất công – lên án ngài vì cái chết của hàng chục người trong số họ. Nhưng bệ hạ thì trong trắng trước toàn thể nước Nga và trước cả những người ấy. Trên hai bàn tay của bệ hạ không có giọt máu nào. Bệ hạ là nạn nhân vô tội của hoàn cảnh của mình.

Bệ hạ trong trắng và vô tội trước bản thân và trước Thiên Chúa. Nhưng bệ hạ đang đứng ở ngã ba đường. Chỉ còn mấy ngày nữa thôi, và nếu thắng lợi sẽ thuộc về những kè vừa nói vừa nghĩ rằng những chân lý Kitô giáo chỉ dành cho những câu chuyện vã, còn trong đời sống của quốc gia thì máu phải chảy và thần chết phải ngự trị, thế thì bệ hạ sẽ vĩnh viễn lìa bỏ trạng thái hạnh phúc của sự trong trắng và của đời sống với Chúa và sẽ bước lên con đường tối tăm của những tất yếu nhà nước biện hộ cho tất cả, thậm chí cho cả việc con người chà đạp luật của Chúa Trời.

Nếu bệ hạ sẽ không tha thứ, sẽ xử tử những kẻ tội phạm, thì bệ hạ sẽ làm cái việc là từ hàng trăm những tội đồ như thế bệ hạ chỉ loại trừ đi 3 – 4, và cái ác sẽ sinh ra cái ác, và thay vì 3 – 4 sẽ hiện lên 30,40 ác thủ, còn bệ hạ thì sẽ để mất đi cái phút giây quý hơn cả một thế kỷ – phút giây khi mà bệ hạ có thể thực hiện ý nguyện của Thiên Chúa nhưng đã không thực hiện và sẽ mãi mãi rời bỏ cái ngã rẽ mà ở đấy bệ hạ đã có thể chọn cái thiện thay vì cái ác và sẽ vĩnh viễn sa lầy trong những việc làm độc ác được gọi là lợi ích quốc gia (Matt. 5, 25).

Còn nếu bệ hạ sẽ tha thứ, sẽ lấy thiện trả ác, thì hàng chục ác thủ trong hàng trăm sẽ đến quỳ gối không phải trước bệ hạ và cũng không phải trước những kẻ khác (cái đó không quan trọng), mà từ tay quỷ dữ sẽ đến với Thiên Chúa và ở hàng ngàn, hàng triệu con người trái tim sẽ run lên vì sung sướng và cảm động trước tấm gương thiện được nêu từ ngai vàng bởi một người con của người cha bị sát hại trong giây phút thử thách khủng khiếp nhất.

Thưa bệ hạ, nếu bệ hạ sẽ xử sự như thế, nếu bệ hạ sẽ gọi những người ấy đến, cho tiền họ và đầy họ đi đâu đó, chẳng hạn sang Mỹ, và ban hành tuyên ngôn với lời dạy đặt bên trên: “Nhưng tôi nói với các người: hãy thương yêu những kẻ thù của mình” – thì tôi không biết những người khác sẽ thế nào chứ tôi, một thần dân tồi tệ, thì sẽ là con chó, là nô lệ của bệ hạ. Tôi sẽ khóc vì mến mộ, như thỉnh thoảng vẫn khóc, mỗi khi nghe thấy tên bệ hạ. Nhưng sao tôi lại nói: không biết những người khác sẽ thế nào. Tôi biết một dòng thác vĩ đại thế nào của cái thiện và tình yêu sẽ tràn ngập nước Nga do những lời ấy. Những chân lý của Kitô vẫn sống trong trái tim muôn người và chỉ một mình chúng hằng sống và chúng ta yêu thương loài người chỉ vì có những chân lý ấy.

Và bệ hạ, một Sa hoàng sẽ không bằng lời mà bằng việc làm tuyên cáo chân lý ấy. Nhưng rất có thể, tất cả cái đó chỉ là những mơ ước, và không thể làm được gì cả […] Có thể, tất cả cái đó đúng cả đấy, nhưng người ta sẽ. nói: Không được. Làm như thế thì sẽ sát hại quốc gia.

Nhưng cứ cho là người đời đã quen nghĩ rằng những chân lý thánh thần là chân lý chỉ của thế giới tinh thần và không áp dụng được vào đời sống; cứ cho rằng các thầy thuốc sẽ nói: chúng tôi không chấp nhận được phương thuốc của ngài bởi vì mặc dù tự thân nó là vô hại đấy, nhưng nó chưa được thử nghiệm, và trong cơn bệnh biến chúng tôi thấy nó không thích hợp và không thể mang lại cái gì ngoài cái hại. Và người ta sẽ còn nói thế này nữa: sự tha thứ và lấy thiện trả ác theo tinh thần Kitô giáo là tốt cho từng người một, nhưng không phải cho quốc gia. Áp dụng những chân lý ấy vào sự cai trị quốc gia tức là giết chết quốc gia.

Nhưng thưa bệ hạ, đó là luận điệu dối trá, dối trá một cách xấu xa nhất, nham hiểm nhất. “Sự thực hành luật của Chúa Trời sẽ giết chết loài người.” Nhưng nếu đó là luật của Chúa Trời ban cho loài người, thì ở mọi nơi và mọi lúc đó vẫn là luật của Chúa Trời và không có luật nào khác. Và không có lời nào phạm thánh hơn là nói: luật Chúa không thích dụng. Nếu thế thì đó đã không phải là luật Chúa. Nhưng cứ giả định chúng ta sẽ quên đi rằng luật của Chúa Trời cao hơn mọi luật lệ khác và luôn luôn khả dụng. Được rồi: luật Chúa là bất khả dụng và nếu chúng ta đem áp dụng thì sẽ xảy ra cái ác tồi tệ hơn. Nếu tha thứ cho mọi kẻ tội phạm, thả chúng ra hết từ tất cả các nhà giam và nơi lưu đày thì tài ác lớn nhất sẽ đến. Nhưng tại sao lại sẽ là đúng như thế? Chư vị lấy gì để chứng minh điều ấy? Chỉ sự hèn nhát của mình. Ngoài ra chư vị không có một chứng minh nào khác. […]

Người ta bảo: thả tất cả chúng ra, thì sẽ có một cuộc tắm máu. Nói về những người cách mạng, mà người ta suy luận như thể nói về một băng cướp nào đó mà chỉ cần tóm cổ được hết là sẽ không còn băng cướp nữa. Nhưng vấn đề hoàn toàn không phải như thế: quan trọng không phải là con số, không phải là tiêu diệt hoặc trục xuất được thật nhiều những kẻ ấy, mà là triệt tiêu tinh thần của chúng, cung hiến một tinh thần mới. Bởi vì những người cách mạng là ai? Đó là những người căm thù trật tự sự vật hiện hữu, cho nó là xấu xa và chủ trương một trật tự khác cho tương lai, mà theo họ sẽ là tốt hơn. Không the đấu tranh với họ bằng cách giết chết họ.

Quan trọng không phải là số lượng của họ, quan trọng là những tư tưởng của họ. Để có thể đấu tranh với họ, cần phải đấu tranh bằng tinh thần. Lý tưởng của họ là sự no ấm chung, bình đẳng, tự do. Để đấu tranh với họ, cần phải đặt đối lập với họ một lý tưởng vừa cao hơn lý tường của họ vừa bao hàm cả lý tưởng ấy. Người Pháp, người Anh, người Đức hiện giờ cũng đang đấu tranh với họ và cũng không thành công.

Chỉ có một lý tưởng mà có thể đặt đối lập với họ. Đó là lý tưởng mà họ đã từ bỏ, không hiểu nó và báng bổ nó, nhưng chính nó lại bao hàm cả lý tưởng của họ – lý tưởng yêu thương, tha thứ và lấy thiện trả ác. Chỉ có lời tha thứ và thể hiện tình yêu thương Kitô giáo, được nói và thực hành từ ngai vàng, và chỉ có con đường trị nước trị dân theo tinh thần đạo Kitô, mà bệ hạ sắp tới sẽ bước lên, mới có thể triệt tiêu được cái ác đang đục khoét nước Nga.

Như sáp trước ngọn lửa, mọi hoạt động đấu tranh cách mạng sẽ tiêu tan trước một Sa hoàng – con người thực hành luật của đức Kitô.

17. Gửi N.N Strakhov

Tiểu dẫn – Cuộc ám sát Alenxander II đã dấy lên trên báo chí Nga một làn song bất bình, được nhà cầm quyền lợi dụng để thực hiện một chính sách đối nội phản động, bóp nghẹt những mầm non tự do chớm nở dưới triều đại của ông vua này. Quen hưởng ứng thời cuộc, N.N. Strakhov trong tháng Năm 1881 đã đăng trên tuần báo Nước Nga (Rus) bốn bài viết dưới tiêu đề chung “Những bức thư về chủ nghĩa hư vô” ( từ “hư vô” thời ấy được dùng phổ biến để chỉ những người có đầu óc cách mạng hay cấp tiến nói chung), trong đó ở hai bài đầu ông phê phán kịch liệt những người cách mạng dân túy, buộc tội họ đã phản bội những lý tưởng đạo đức của nhân dân Nga, nhưng trong hai bài sau cũng  phê phán cả chính sách của các giai cấp thống trị và tình trạng suy đồi đạo đức trong xã hội Nga cùng thời và thừa nhận rằng những người cách mạng là những người tử vì đạo và “tự nhận lấy cho mình vai trò chăm lo cho người mugic và cho đất.” Tolstoi đã viết cho Strakhov hai ức thư dài, bày tỏ những đồng thuận và bất đồng với những quan điểm của Strakhov, dưới đây được chọn dịch một thư. [Yasnaya Polyana, 26 (?) tháng Năm 1881]

Nikolai Nikolaevich quý mến!

Chỉ hôm qua tôi mới nhận được và đã đọc bài thứ ba và thứ tư của anh. Tôi rất thích hai bài này nhưng, anh tha thứ cho tôi, chính bởi vì chúng phủ định hai bài trước. Trong bài đầu tiên, anh đặt vấn đề thế này: giữa một xã hội đang an khang, tốt đẹp xuất hiện những tên ác ôn nào đó, 20 năm trời chúng săn đuổi một ông vua hiền hậu và cuối cùng đã giết chết ông ấy. Những tên ác ôn ấy là ai? Và anh phơi bày tất cả những khuyết, điểm của những tên ác ôn ấy trong bài thứ hai. Nhưng theo tôi câu hỏi đã được đặt không đúng. Không có những ác ôn nào cả, mà đã và đang có cuộc đấu tranh giữa hai khởi nguyên và nếu phân tích cuộc đấu tranh từ điểm nhìn đạo đức thì chỉ có thể bàn tháo phía nào trong hai phía đã đi lệch cái thiện và cái chân hơn; nhưng không được quên về cuộc đấu tranh. Chỉ có ai tự mình đang giao tranh, người ấy mới có thể quên. Nhưng anh bàn thảo cơ mà.

Chê trách thứ hai là để bàn thảo, cần có một căn cứ vững chắc và rõ ràng mà từ tầm cao ấy có thể bàn thảo đối tượng. Anh thì đưa “nhân dân” (dân tộc) ra làm căn cứ. Tôi cần phải nói rằng thời gian gần đây từ này cũng trở nên tởm lợm với tôi như những từ: hội thánh, văn hóa, tiến bộ, v.v… Thế nào là nhân dân, tính nhân dân, thế giới quan của nhân dân? Đó chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là ý kiến của tôi cộng với giả định của tôi rằng ý kiến của tôi được đa số những ngườỉ Nga chia sẻ. Aksakov, thí dụ, ngây thơ tin tưởng rằng chính thể quân chủ chuyên chế và đạo chính thống là những lý tưởng của nhân dân[181].

Ông ta thậm chí không nhận ra rằng quân chủ chuyên chế theo kiểu nhất định không phải là cái gì khác mà chỉ là một hình thức nhất định, hoàn toàn ngoại tại, mà quả thật dân Nga trong một thời gian không lâu đã sống. Nhưng bằng cách nào một hình thức, mà lại tồi tệ, mà lại rõ ràng đã chứng tỏ sự vô căn cứ của mình, có thể là lý tưởng – cái đó phải hỏi ông ấy. Bằng cách nào một hình thức tôn giáo ngoại tại của những tuyên tín tín ngưỡng giáo điều của phái Hy Lạp – Nga – Iosif[182] rất vô căn cứ và rất tồi tệ, lại có thể là lý tưởng – cái đó cũng phải hỏi ông ấy. Bởi lẽ tất cả cái đó ngu ngốc đến nỗi xấu hổ phản bác, khác nào tôi sẽ khẳng định rằng tôi biết ông Strakhov với những lý tưởng của ông ấy vì tôi biết ông ấy hang ngày đến thư viện, đội mũ rộng vành màu đen và mặc măngtô màu xam.

Và vì thế mà những lý tưởng của Strakhov là: đi thư viện, măngtô màu xám và chủ nghía Strakhov. Hai hình thức ngẫu nhiên và bề ngoài nhất – chính thể quân chủ chuyên chế và đạo chính thống cộng với tính nhân dân (dân tộc) mà đã không còn có ý nghĩa gì nữa được phô trương như là những lý tưởng. Khác nào những lý tưởng của Strakhov – đó là đi thư viện, mặc măngtô màu xám và chủ nghĩa Strakhov. Nói tôi biết những lý tưởng của nhân dân là rất bạo gan đấy, nhưng có ai bị cấm nói thế đâu. Có thể nói như thế, nhưng phải nói rõ và xác định tôi cho những lý tưởng ấy là ở đâu và trình bày được những lý tưởng đạo đức thực sự, chứ không phải bánh blin[183] trong lễ hội Maslenitsa[184] hay đạo chính thống, không phải mũ murmolka[185] hay chính thể quân chủ chuyên chế.

Sai lầm của bài viết của anh cũng gần như thế. Anh lên án nhân danh những lý tưởng của nhân dân nhưng lại tuyệt không diễn bày chúng trong hai bài đầu, mà chỉ nói ra một cách không xác định lắm đối với những người khác (với tôi thì rõ đấy) trong hai bài sau cùng. Trong những bài cuối ấy anh phán xét từ tầm cao của đạo Kitô, và ở đây thì nhân dân đã hoàn toàn vô can. Và đây là điểm nhìn duy nhất mà từ nó có thể phán xử. Nhân dân không can hệ gì. Cái nhân dân ấy tán đồng quan điểm mà tôi cho là chân lý – thì càng tốt; không tán đồng – thì chỉ càng xấu hơn cho nhân dân ấy thôi[186]. Và chỉ cần anh đứng lên trên quan điểm ấy, thì có ngay kết luận hoàn toàn trái ngược với những bài trước. Đằng kia là những tên ác ôn; đằng này thì cũng vẫn những tên ác ôn ấy đã xuất hiện như là những người duy nhất có đức tin – mặc dù sai lầm – nhưng dẫu sao vẫn là những người duy nhất có đức tin và hy sinh cuộc sống xác thịt vì cái trên trời, tức là cái vô cùng vô tận.

Nikolai Nikolaevich thân quý. Người già nói dối khác nào kẻ giàu ăn cắp – tôi không còn sống được lâu nữa để mà không nói thẳng toàn bộ sự thật với những người mà tôi yêu mến và kính trọng như anh. Mong anh phân giải những gì tôi nói, cái gì không đúng – xin anh chỉ cho, còn cái gì đúng – thì có dịp mong anh cũng nói cho là cái đúng. Sự im lặng của anh đè nặng lên tôi. Tôi quý và sẽ không ngừng quý trọng sự giao lưu bạn bè với anh. […]

18. Gửi A.A. Tolstaya

[22 – 23 tháng Tư 1884]

Người bạn yêu quý của cháu!

Bức thư của cô đã chữa lành hoàn toàn cái vết sây sát của sự bực bội trong cháu. Nhưng cháu vẫn muốn nói thêm một nhận xét nữa, không phải cho mình, mà cho cô, để cấp cho cô một chìa khóa đúng đắn tiếp cận với cháu mà không cảm thấy chua chát; mà cháu thấy rằng cô phải khó nhọc lắm mới làm được điều đó.[187]

Cô nói rằng cháu dạy đời[188]. Người bạn yêu quý của cháu, đó là một sai lầm khủng khiếp. Cháu cho rằng không có một người nào có xác tín, thành tín mà lại ít có thiên hướng dạy đời và ít dạy đời như cháu. Mong cô để tâm hiểu những gì cháu sẽ nói và đừng nóng nảy mà hãy kiểm chứng. Cháu có niềm tin (niềm tin của cháu tồi tệ – đó là chuyện khác rồi). Cháu có gia đình, con cái, bạn bè và đáng tiếc là có cả công chúng Nga quan tâm đến những quan điểm của cháu về đời sống. Xin cô khuyên bảo cháu phải làm gì bây giờ? Không bày tỏ những quan điểm của mình, chừng nào chúng chưa xác định, chừng nào cháu chưa tin chắc rằng đây là xác tín của cháu và cháu sẽ chết trong xác tín ấy và vì nó?

Cháu đã làm đúng như vậy. Nhưng giờ đây, khi cháu đã tin tưởng sắt đá vào cái mà cháu cho là chân lý, thì cháu phải làm gì đây mỗi khi người ta hỏi cháu tin vào cái gì? Che giấu niềm tin của mình à? Che giấu bởi vì niềm tin nơi cháu không phù hợp với tín ngưỡng ngự trị, vì với cháu sẽ là khó chịu, khó khăn và nguy hiểm bày tỏ nó? Rõ ràng cháu phải nói ra cháu tin vào cái gì để cho không có một qui pro quo[189] nào và để cho người ta không thể lợi dụng uy tín của cháu (mà cô cũng thừa nhận) để hô hào cho cái mà cháu không tin. Và cháu đã làm đúng như thế. Thế mà cô lại nói cháu dạy đời. Cái đó bất công.

Toàn bộ ý nghĩa của những viết lách của cháu đó là cháu bày tỏ niềm tín của mình, niềm tín của cá nhân mình và cháu không những không nói rằng ngoài niềm tin của cháu không có cứu sách nào khác, mà cháu còn thừa nhận rằng niềm tin nào cũng tốt đẹp nếu nó chân thành và nhất thiết nó sẽ liên kết chúng ta trong những công việc nhân ái. Cháu chỉ nói cháu tin vào cái gì không tin vào cái gì và vì sao không tin. Cháu hay phải ngạc nhiên thấy nỗi bực bội mà sự tuyên tín ở cháu gây ra. Tại sao đạo phản thệ[190], đạo nhất ngôi[191], đạo Hồi lại không làm cho ai bực bội như thế?

Cháu sẽ sung sướng vô cùng nếu cô chia sẻ niềm tin với cháu; nhưng nếu cô theo tín ngưỡng khác thì cháu rất hiểu vì sao lại có chuyện là cô thuộc về một tín ngưỡng khác và sự dị biệt giữa chúng ta không thể làm cho cháu bực tức. Còn sự bực tức đối với cháu thì tàn nhẫn đặc biệt. Mong cô cố hiểu một chút cuộc sống của cháu. Tất cả những niềm vui sống trước đây cháu đã để mất rồi.

Mọi niềm vui thú của đời người – giàu sang, danh vọng, vinh quang, tất cả cái đó ở cháu không tồn tại nữa. Những người bạn của cháu, thậm chí cả những người thân thuộc, quay lưng lại với cháu. Một số – phái tự do và duy mỹ chủ nghĩa – coi cháu là điên rồ hay kém cỏi trí tuệ, tựa như Gogol; số khác – dân cách mạng, cấp tiến xem cháu là tên thần bí luận, ba hoa nói mẽ; những người trong chính phủ thì xem cháu là một tên cách mạng độc hại, còn giới chính giáo thì gọi cháu là một con quỷ. cháu phải thừa nhận rằng cái đó làm cho cháu khổ lắm, khổ không phài vì uất hận mà vì bị phương hại cái luôn luôn là đích chính và hạnh phúc của đời cháu – sự giao tiếp yêu thương với mọi người: cái đó trở nên khó khăn hơn nhiều khi mà ai ai cũng sấn tới cháu với những lời căm giận hay trách móc. Cho nên, cháu xin cô, hãy xem cháu như một kẻ dị giáo thành tâm, như thế thì mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp[192]. […]

19. Gửi N.N. Strakhov

[16 tháng Mười 1887]

Nilolai Nikolaievich thân mến!

Tôi đang rất xúc động và hồi hộp. Mấy hôm nay tôi bị cảm lạnh và do không viết được đã đọc nhiều và lần đầu tiên đọc Phê phán lý tính thực hành của Kant[193]. Xin anh trả lời tôi ngay: anh đã đọc chưa? Bao giờ? Nó có khiến anh kinh ngạc không?[194]

Hai mươi lăm năm trước đây tôi đã tin cái anh chàng Schopenhauer lếu láo một cách tài hoa ấy […] tin rằng ông già này (Kant_ND.) rốt cuộc cũng chỉ nói những chuyện tầm phào và trọng tâm của ông ta là sự phủ định. Tôi đã sống 20 năm trong sự đinh ninh như thế và không một cái gì thôi thúc tôi ngó vào chính cuốn sách ấy. Nhưng một thái độ như thế với Kant chẳng khác nào coi giàn giáo xung quanh tòa nhà là chính tòa nhà. Đây là sai lầm của riêng tôi hay sai lầm chung? Tôi có cảm tưởng đây là sai lầm chung.

Tôi đã thử xem lịch sử triết học của G.Weber[195] hiện tôi đang giữ và thấy Weber không tán thành luận điểm cơ bản mà Kant đã đi tới cái luận điểm nói rằng tự do của chúng ta, được quy định bởi những quy luật đức lý, chính là vật – tự – nó (tức là sự sống) – mà chỉ thấy ở đây một nguyên cớ cho những thứ nặn óc viết ra sau này của Fichte, Schelling và Hegel, còn toàn bộ công lao của Kant thì lại chỉ nhìn thấy ở Phê phán lý tính thuần túy, có nghĩa là ông tướng này đã hoàn toàn không nhìn thấy ngôi đền[196] đã được xây nên trên mặt bằng đã được dọn dẹp, mà chỉ nhìn thấy cái mặt bằng được dọn dẹp ấy, rất tiện lợi cho những luyện tập điền kinh. Grot[197], một tiến sĩ triết học, viết một chuyên luận về tự do ý chí, trích dẫn một Ribot nào đó và những học giả khác, mà các giới thuyết của họ là cuộc chạy đua của những điều vô nghĩa và những mâu thuẫn, trohg khi đó thì định nghĩa của Kant lại bị phớt lờ.

Thế mà chúng ta cứ nghe và cứ bàn luận, cố gắng phát hiện lại châu Mỹ. Nếu trong thế giới chúng ta không xảy ra một cuộc chấn hưng khoa học và nghệ thuật bằng sự lọc phân tìm ngọc trai thì chúng ta sẽ chết chìm trong cái nhà xí của sự sính viết dốt nát và sự nhai đi nhai lại người khác […]

Thêm một ấn tượng mạnh mẽ nữa ở tôi, giống như Kant – khoảng ba tuần trước tôi đọc lại lần thứ ba “Trao đổi thư từ” của Gogol[198]. Và trong vấn đề ý nghĩa của nghệ thuật tôi lại phát hiện lại một châu Mỹ mà Gogol đã phát hiện 35 năm trước đây. Ý nghĩa của nhà văn ở đấy (thư gửi Yazykov, 29) được xác định một cách không thể tốt hơn. Và nói chung, toàn bộ cuốn sách (nếu loại bỏ đi một ít điều cục bộ) đầy ắp những tư tưởng cơ bản nhất, sâu sắc nhất.

Một nghệ sư vĩ đại trong nghề của mình đã nhìn thấy khả năng tác nghiệp tốt hơn, đã nhận ra những khuyết điểm ở những tác phẩm của mình, đã chỉ ra chúng, đã chứng minh sự chân thật của và đã chỉ ra nếu mẫu mực thì cũng là cái cương lĩnh của những gì có thể làm và cần làm, thế mà đám đông, không bao giờ hiểu được ý nghĩa và phẩm giá của những gì được làm nên và tìm ra được một đại diện lợi khẩu cho quan điểm thấp kém của mình[199], đã la ó chửi rủa, và đã 35 năm bị vứt vào xó một thánh truyện câm động vô cùng với những lời răn đầy ý nghĩa của một người tử vì đạo trong làng văn chúng ta, một Pascal của nước Nga chúng ta.

Một người ngộ ra được cái vị trí không thích hợp mà khoa học chiếm giữ trong tâm thức của ông, người kia thì ngộ ra được vị trí không thích hợp của nghệ thuật. Nhưng một người thì đã được hiểu, được thừa nhận tất cả những gì là chân chính và vĩnh cửu ở ông ta, còn Gogol của chúng ta thì từ khi bị bôi bẩn và đẩy xuống bùn, đến giờ vẫn nằm dưới ấy, và bên trên ông chúng ta 30 năm nay vẫn tiếp tục làm cái việc, mà tính vô nghĩa của nó ông đã cho thấy rõ đến thế bằng cả lời nói và việc làm. Tôi mơ ước xuất bản những đoạn chọn lọc trong “Trao đổi thư từ” cùng với tiểu sử của Gogol ở Người trung gian (“Posrednik”)[200] cho nhân dân đọc. Ít nhất họ sẽ hiểu ông ấy […]

20. Gửi N.S.Leskov

Tiểu dẫn – Nikolai Semionovich Leskov (1831 – 1895) thuộc hàng những bậc thầy lỗi lạc của văn xuôi Nga. Khác với nhiều văn sĩ đề cao Tolstoi – nghệ sĩ và coi nhẹ Tolstoi – nhà tư tưởng, Leskov những năm cuối đời trở thành người ủng hộ nhiệt thành học thuyết của Tolstoi, xem mình là một “học trò tân tòng” của ông. Hiện còn, lưu giữ được 10 bức thư của Tolstoi gửi Leskov và 51 thư Leskov gửi Tolstoi đề cập đến nhiều vấn đề đời sống xã hội và văn hóa của nước Nga.

Bức thư sau đẫy được Tolstoi viết để trả lời thư đề ngày 20.6.1891 mà trong đó Leskov thông báo về nạn đói đe dọa một số tỉnh miền Trung nước Nga và những hoạt động từ thiện cứu đói đang được tổ chức trong các giới xã hội Nga. Đáng để ý là bất chấp lập trường “vô vi”, không khoan nhượng đối với mọi hình thức từ thiện ban ơn cho nhân dân, khi nạn đói đã xảy ra với quy mô lớn thì chính Tolstoi cùng cả gia đình ông đã tham gia đắc lực nhất vào phong trào cứu đói. Tolstoi đã viết trong năm 1891 này hai bài nghị luận thấu đáo – “về nạn đói” và “Lại về nạn đói” không được đưa vào sách này chỉ do khuôn khổ có hạn của sách.

[4 tháng Bảy 1891]

Tôi rất mừng nhận được tin của anh, Nikolai Semionovich thân mến, mừng thấy tinh thần anh vẫn bình yên và sảng khoái mặc dù anh đang yếu mệt. Chỉ cốt sao cho tinh thần được khỏe mạnh và làm việc không ngơi nghỉ, còn thân xác thì mặc nó đối xử với ta thế nào cũng được.

Trả lời câu hỏi của anh về nạn đói, tôi rất muốn diễn đạt được thật rõ ràng những gì mà tôi nghĩ và cảm thấy về chuyện ấy. Mà tôi nghĩ và cảm thấy về chuyện ấy một điều rất xác định, cụ thể là: nạn đói ở một số địa phương (không ở chỗ chúng tôi, mà gần chỗ chúng tôi, ở một số huyện – Efremovski – Epifanski – Bogoroditski) đã có và sẽ còn dữ hơn, nhưng cái nạn đói phổ biến, tức là sự thiếu bánh mì nhiều hơn là thường lệ ở những kẻ cần có nó, trong khi đó thì nó lại có thừa ở những người không cần đến nó – nạn đói ấy không thể ngăn chặn bằng cách quyên góp, vay tiền rồi mua bánh mì và phân phát cho những ai thiếu thốn, bởi lẽ toàn bộ vấn đề là ở sự phân phối cái số bánh mì có ở trong dân chúng.

Nếu số bánh mì đã và đang có, hay là số đất, hay số tiền hiện có đã được phân phối một cách khiến cho lùôn luôn có những người đói thì khó mà nghĩ rằng cái số bánh mì hay tiền sắp quyên góp được sẽ được phân phối tốt hơn. Khoản tiền được quyên góp và phân phát ấy sẽ lại chỉ là mối cám dỗ mới. Khi cho cả gà lớn và gà con, ăn nếu bọn lớn, cả trống lẫn mái, bắt nạt bọn bé, vồ thức ăn nhanh hơn và xua đuổi lũ bé ra xa, thì dù có cho thêm thức ăn, vẫn ít khả năng là những con đói sẽ được no nê. Mà ở đây cần phải hình dung rõ bọn lớn tranh ăn là lũ không biết no. Thành thử toàn bộ vấn đề là – vì không thể giết chết lũ gà lớn tranh ăn – cho nên phải dạy cho chúng biết chia sẻ với lũ yếu bé. Và chừng nắo chưa làm được điều đó – thì mãi mãi sẽ còn nạn đói. Nó ton tại không ngớt: cái đói của thân thể, cái đói của trí tuệ, cái đói của tâm hồn.

Tôi nghĩ rằng cần phải dồn hết sức lực – dĩ nhiên bắt đầu từ bản thân mình – để chống lại những gì gây ra cái đói ấy. Còn lấy của chính phủ hay tổ chức quyên góp tức là tập hợp cho nhiều vào những đồng tiền bất chính và không thay đổi sự phân phối mà chỉ gia tăng thức ăn – theo tôi vừa vô tác dụng vừa chỉ tạo ra những tệ hại mới. Có cơ man những qủý ông quý bà thích làm những việc kiểu ấy – họ thường xuyên sống không hề nghĩ đến dân, thậm chí thường khinh ghét dân đen ấy, rồi bỗng dưng sồn sồn lên, tỏ ra lo sốt vó cho những người anh em bé nhỏ của mình – hãy cứ để họ làm những trò ấy. Động cơ của họ vừa là hiếu danh, theo đuổi hư danh, vừa là nỗi sợ không khéo dân chúng sẽ nổi giận.

Còn tôi thì nghĩ rằng không thể làm điều thiện một cách ngẫu hứng, nhân có nạn đói, và rằng ai hành thiện hôm nay thì người ấy hôm qua, hôm kia cũng đã hành thiện, và cả ngày mai, ngày kia nữa, cả khi có đói cũng như khi không có nạn đói. Và vì thế để chống đói chỉ cần một điều – sao cho mọi người làm thật nhiều điều thiện, và – vì chúng ta cũng là người – cho nên ta hãy cố gắng làm như thế cả hôm qua, hôm nay, ngày mai và mãi mãi. Mà việc thiện thì không phải là cho ăn no những người đang đói mà là thương yếu cả những ngưòỉ đói lẫn những người no. Và thương yêu quan trọng hơn cho ăn bởi lẽ có thể cho ăn mà không thương yếu, tức là làm điều ác cho người khác, nhưng không thể thương yêu mà khôhg cho ãn. Tôi viết điều này không hẳn cho anh mà nhiều phần hơn cho những ngưòỉ mà cứ phải không ngớt cảnh tỉnh – họ đinh ninh rằng chỉ cần tập hợp hay kiếm ra tiền và phân phát đã là việc tốt rồi mà không hiểu rằng chỉ những việc làm của tình yêu mới là việc tốt, mà việc làm của tình yêu bao giờ cũng là sự tự hy sinh.

Vì vậy, nếu anh hỏi tôi, “anh phải làm gì?”  thì tôi xin trả lời: khơi gợi, nếu anh có thể (mà anh có thể), trong mọi người lòng thương yêu lẫn nhau, và thương yêu không phải vì có nạn đói, mà thương yêu lẫn nhau luôn luôn và khắp nơi; nhưng hiện giờ xem ra sẽ là phương tiện cứu đói hữu hiệu nhất viết được một cái gì sẽ làm động lòng những người giàu. Chúa khuyến dụ trái tim anh thế nào thì anh cứ viết như thế, tôi cũng thế, tôi cũng sẽ sung sướng được Chúa lệnh cho viết ra một cái gì đó tương tự […]

20. Gửi chủ bút của báo nước ngoài

[Moskva, 18 tháng Hai 1894]

Thưa quý ông nhân từ,

Xin quý ông dành chỗ trên tờ báo của ông cho tuyên bố sau đây của tôi. Mấy năm trước tôi đã đăng trên mấy tờ báo Nga tuyên bố rằng do tôi không cho là chính đáng cái việc nhận tiền cho những tác phẩm của mình, cho nên tôi giao cho tất cả mọi người, không có ngoại lệ và phân biệt, quyền in và in lại tất cả những tác phẩm của tôi đã và sẽ ra từ năm 1881 trong nguyên tác hoặc qua các bản dịch, toàn văn hay từng phần[201]. Bất chấp tuyên bố ấy của tôi, chắc nó không được nhà xuất bản ở Pháp, Anh, Đức biết, tôi hay nhận được thư với những kiến nghị đồng ý cho in có trả nhuận bút trên tạp chí này nọ hoặc dành cho hãng xuất bản này nọ độc quyền xuất bản tác phẩm này nọ.

Thậm chí có những trường hợp, khi mà một vài nhà xuất bản mạo nhận cho mình cái độc quyền ấy và tranh chấp với các nhà xuất bản khác, như hiện nay đang diễn ra ở Anh giữa hãng Heimann và hãng Walter Scott, và ở Đức giữa một hãng xuất bản ở Stutgarth và một hãng ở Munchen[202]. Do có những sự hiểu nhầm ấy, một lần nữa tôi xin tuyên bố rằng tôi không giao cho bất cứ một ai độc quyền hay thậm chí quyền ưu tiên xuất bân những tác phẩm của tôi và những bản dịch từ chúng, mà giao quyền ấy một cách không phân biệt cho tất cả những ai thấy việc xuất bản những tác phẩm của tôi hay những bản dịch từ chúng là đáng mong muốn cho mình.

Lev Tolstoi

21. Gửi A.A Tolstaya

[31 tháng Ba 1885]

Sonia[203] bắt đầu viết lá thư này[204], chưa viết xong thì hôm qua mắc cúm, hôm nay vẫn chưa khỏe và bảo cháu viết nốt thay cô. Cháu rất mừng được làm việc này, người bạn già thân quý của cháu ạ. Chứng bệnh thân thể của vợ cháu xem ra không nguy hiểm và không nặng; nhưng nỗi đau tâm linh thì rất nặng nề mặc dù, cháu thiết nghĩ, cũng không nguy hiểm và thậm chí còn tốt lành và đáng mừng, cũng như mọi cuộc sinh đẻ, mọi việc sinh ra cho cuộc sống mới. Nhưng nỗi đau của cô ấy to lớn vô cùng. Bấy lâu nay cô ấy chạy trốn tất cả những gì nặng nhọc, khó chịu, chưa giải thích được, gây lo cho cô ấy trong cuộc đời này – chạy trốn vào cái tình yêu đặc biệt cuồng nhiệt và song phương đối với đứa con trai quả thật được phú bẩm những năng lực tinh thần, năng lực yêu thương đặc biệt (thằng bé quả là một trong những đứa trẻ được

Chúa sai trước hạn xuống thế gian này, còn chưa sẵn sàng cho chúng, một trong những sinh linh tiên phong, tựa như những con chim én bay đến quá sớm và phải chịu rét). Thế rồi bỗng nhiên thằng bé bị cướp đi của cô ấy, và trong cuộc sống trần thế này cô ấy tuồng như đã mất đi tất cả, mặc dù cô ấy vẫn là mẹ [của những người con khác]. Và cô ấy vô tình bị dẫn dắt tới sự tất yếu phải vươn tới một thế giới khác, thế giới tinh thần, nơi mà cô ấy chưa sống bao giờ. Và đáng ngạc nhiên là thân phận người mẹ đã giữ gìn cho cô ấy được trong trắng và có năng lực tiếp thụ những chân lý tinh thần. Cô ấy khiến cháu phải kinh ngạc bởi sự trong trắng tinh thần của mình – đặc biệt bởi thái độ khiêm hạ.

Cô ấy còn đang tìm kiếm, nhưng thành tâm, hết lòng đến mức cháu tin chắc, cô ấy sẽ tìm thấy. Cháu vui mừng thấy cô ấy đã ngoan ngoãn chấp thuận ý chí của Thượng Đế và chỉ cầu xin Ngài dạy cho cô ấy sống thế nào khi đã không còn con người mà cô ấy đã dồn tất cả tình yêu vào đấy. Và cho đến giờ cô ấy vẫn chưa biết phải sống thế nào. Đối với cháu tổn thất này cũng đau đớn lắm, nhưng cháu còn xa mới cảm thấy nó như Sonia, thứ nhất bởi vì cháu vẫn có một đờỉ sống khác, tinh thần, và thứ hai, bởi vì do sự đau khổ của vợ cháu mà cháu ít cảm thấy sự mất mát của mình và hơn nữa cháu đang chứng kiến những chuyển biến vĩ đại trong tâm hồn cô ấy, cháu rất thương và rất hồi hộp trước tâm trạng của cô ấy […].

Trước đây không biết bao lần cháu từng hỏi mình, như nhiều người vẫn hỏi: trẻ em chết để làm gì? Và cháu không bao giờ tìm được câu trả lời. Trong thời gian gần đây, hoàn toàn không nghĩ về trẻ em mà nghĩ về cuộc đời của mình và của con người nói chung, cháu đi đến một xác tín, rằng nhiệm vụ duy nhất trong đời của từng người chỉ là làm sao gia tăng trong mình tình yêu thương, và bằng cách gia tăng trong mình tình yêu thương làm lây lan sang những người khác, gia tăng tình yêu cả ở trong họ. Và giờ đây, khi chính cuộc sống đặt trước cháu câu hỏi: thằng bé ấy, sống không được một phần mười cuộc đời thông thường của con người, đa sống và chết đi để làm gì?

Thì cái câu trả lời chung cho tất cả mọi người mà cháu đã đến với nó mà tuyệt không nghĩ về trẻ em, lại hóa ra không chỉ thích hợp với cái chết này mà bằng tất cả những gì được gia đình cháu trải nghiệm đã xác nhận tính đúng đắn của câu trả lời ấy. Thằng bé đã sống để gia tăng trong mình tình yêu, để lớn lên trong tình yêu, như Đấng đã phái cử nó thấy là cần thiết và để làm lây lan sang tất cả mọi người bao quanh nó cái tình yêu ấy và khi rời bò cuộc đời để trở về với Đấng mà bản thân là Tình Yêu, thì để lại cái tình yêu đã lớn lên trong nó ấy cho chúng cháu, gắn kết chúng cháu bằng tình yêu ấy. Chưa bao giờ chúng cháu lại cảm thấy gần nhau như giờ đây, và cũng chưa bao giờ cháu cảm thấy cả trong cháu lẫn trong vợ cháu một nhu cầu yêu thương lớn như thế và một nỗi khinh ghét đến thế đối với mọi sự chia rẽ và ác độc. Và chưa bao giờ cháu yêu vợ cháu như bây giờ. Và cháu thấy thật hạnh phúc được sống trên đời […]

22.Gửi F.A. Zheltov

Tiểu dẫn – Fedor Alexeevich Zheltov (1859-?) là một nhà văn nông dân, xuất thân từ một giáo phái ly khai với giáo hội chính thống. Cùng với một nhóm văn sĩ bình dân, ông được Tolstoi tận tình giúp đỡ, kèm cặp, nhưng sau một số truyện ngắn và ký được in đã thôi không sáng tác nữa.

Trong thư này Tolstoi trả lời những câu hỏi về giáo dục trẻ em nêu trong thư của Zheltov đề ngày 19.10.1895.

Moskva, 18 tháng Chạp 1895

Fedor Alexeevich thân mến,

Nhận được thư anh là tôi muốn trả lởi ngay bởi vì tôi có những tư tưởng rất xác định về vấn đề anh quan tâm; nhưng một phần do không khỏe một phần những công việc lăng xăng của đời sống đã khiến tôi chậm trễ, mong anh thứ lỗi. Về giáo dục, tôi suy nghĩ rất nhiều. Trong đời người có những vấn đề mà về chúng, ta có thể đi đến những kết luận còn khả nghi, nhưng cũng có những vấn đề, mà ở đấy những kết luận ta đã đi tới là những kết luận cuối cùng, Và ta cảm thấy không thể thay đổi và cũng không thể thêm thắt một cái gì nữa vào đấy: là như thế những kết luận mà tôi đã đi đến về giáo dục. Chúng là như sau: công việc giáo dục thường được xem là phức tạp và khó khăn chỉ chừng nào chúng ta còn muốn giáo dục con em mình hay bất cứ một ai mà lại không giáo dục bản thân mình.

Còn nếu chứng ta hiểu rằng chúng ta chỉ có thể giáo dục người khác thông qua mình, bằng cách giáo dục mình thì câu hỏi về giáo dục tự tiêu biến và chỉ còn lại câu hỏi của đời sống: chính ta phải sống thế nào? Tôi không biết một hành động giáo dục trẻ em nào mà lại không bao hàm cả sự giáo dục chính mình. Cho mặc, cho ăn, cho ngủ, dạy dỗ con cái thế nào? Hệt như với mình. Nếu cha mẹ ăn mặc, ăn uống, ngủ nghê điều độ và vừa lao động vừa học tập, thì con cái họ cũng sẽ làm như thế. Tôi có thể đưa ra hai quy tắc cho giáo dục: tự mình không chỉ sống tốt, mà còn tự tu, tự hoàn thiện không ngừng và không giấu giếm con cái bất cứ cái gì trong đời mình. Thà để cho con cái biết về những mặt yếu của cha mẹ chúng, còn hơn là để cho chúng cảm thấy rằng cha mẹ chúng có một cuộc sống được che giấu khỏi chúng và có một cuộc sống được phơi bày cho chúng thấy.

Tất cả những khó khăn trong giáo dục xuất phát từ chỗ các bậc cha mẹ trong khi không những không sửa đổi những khuyết điểm của mình mà còn thậm chí không muốn công nhận chúng là khuyết điểm và bằng mọi cách bào chữa cho mình, đồng thời lại không muốn trông thấy những khuyết điểm ấy ở những đứa con của mình. Đấy, cái khó là ở đấy, và toàn bộ cuộc đấu tranh với con cái cũng ở đấy. Trẻ em về mặt đạo đức tinh anh hơn người lớn rất nhiều và chúng – nhiều khi không tỏ ra và thậm chí không ý thức được điều đó – nhìn thấy hết những khuyết điểm của cha mẹ và nhất là cái khuyết điểm tệ hậl nhất – sự đạo đức giả, và mất đi sự kính trọng vấ quan tâm đối với những điều dạy bảo của cha mẹ.

Sự giả nhân giả nghĩa của cha mẹ trong khi dạy bảo con cái là một hiện tượng thường tình, mà con cái thì rất nhạy cảm và nhận ra ngay và thấy kinh tởm, và quay lưng lại với cha mẹ, và trở nên hù hỏng. Cho hên sự thật là điều kiện đầu tiên và chính yếu của tính hữu hiệu của ảnh hưởng tinh thần, vì thế nó cũng là điều kiện tiên quyết cho giáo dục. Còn để không sợ cho con cái thấy toàn bộ sự thật về cuộc đời của mìhh thì cần làm sao cho nó trở nên tốt đẹp hoặc ít nhất bớt tồi tệ đi. Vì vậy nhiệm vụ sự giáo dục những người khác phải được đưa vào bên trong nhiệm vụ của sự giáo dục bản thân, và ngoài ra không cần một cái gì khác.

23. Gửi I.F. Lebedinski

Tiểu dẫn – I.F.Lebedinski là một nhân viên ngành đường sắt Nga, do mạnh dạn phát biểu những ý kiến phê phán chính quyền đã bị bắt, xử án và bỏ tù từ 1894. Trong khi ngồi tù, ông đã viết một loạt thư cho Tolstoi vừa ủng hộ vừa tranh luận với Tolstoi về những phương pháp đấu tranh chống lại xã hội bất công.

Dưới đây là một trong những thư trả lời của Tolstoi.

[28 tháng Giêng -16 tháng Hai 1896]

Thưa ông Ivan Filippovich kính mến,

Xin ông tha thứ cho tôi đã không phúc đáp lá thư đầu tiên của ông và lại chậm trà lời bức thư sau. Thực ra đã chẳng có gì để đáp trả thư đầu tiên của ông. Tôi cũng căm thù như ông cái chế độ mà với nó có thể có những hành vi bạo lực mà ông đã phải chịu đựng, và tôi hướng mọi sức lực của mình tôi không nói vào việc đấu tranh với cái bạo lực ấy – mục đích này quá cục bộ – mà vào hoạt động sẽ phải phá bỏ chế độ này và thay thế nó bằng chế độ khác. Còn nếu tôi hành động không như ông thấy cần phải hành động, thì không phải vì tôi thấy kiểu hành động như thế là dễ dàng hơn mà vì tôi cho rằng chỉ con đường tôi đã chọn là hữu hiệu. Đặc điểm chính của nó so với con đường thường được chọn là ở chỗ trước hết nó không bước vào bất kỳ một nhượng bộ nào với cái thế lực độc ác mà chúng ta muốn diệt trừ, không can hệ trực tiếp hay gián tiếp với nó, không lợi dụng nó.

Ông khen ngợi tôi vì bài viết vặt vãnh về hình phạt thể xác[205], nhưng tôi lại cho rằng những bài báo như thế là vô ích. Từ bài ấy, thí dụ, người ta đã cắt bỏ đi phần quan trọng nhất, yà cho dù chúng ta có viết bao nhiêu đi nữa, thì những sự bất chính xấu xa như thế vẫn cứ tiếp tục, chừng nào những cồn người tử tế còn chỉ bàn luận tại các cuộc họp và trong các công sở về những chuyện bỉ ổi ấy. Phương sách diệt tận gốc cái tai họa ấy và mọi thứ tai ác khác là làm sao cho dư luận xã hội bằng thái độ khinh bỉ trừng phạt những kẻ tiếp tay cho chính phủ trong những công việc như thế!

Cứ để cho chính phủ ở lại một mình với lũ Kazac và Kalmyk[206] của họ, còn tất cả những người tử tế thì tránh xa ra. Mà một dư luận xã hội như thế chỉ có thể hình thành, khi mà chúng ta sẽ giãi bày với nhau toàn bộ sự thật bằng lời nói và những trang viết của mình mà tuyệt không bận tâm đến việc chúng có được đăng hay không; và cái chính là khi mà trong những hành vi của mình, chúng ta sẽ không nghĩ đến một chế độ xã hội này hay khác được tưởng tượng ra, mà chỉ lo sao không bao giờ thoái nhượng những yêu cầu của phẩm giá con người và không vấy bẩn mình bằng sự tham gia, dù từ xa đến đâu, vào những công việc bạo lực và bất lương của chính phủ. Tôi nghĩ như thế […]

24. Gửi I.L. Goremykin

Tiểu dẫn – Đối tượng của bức thư này, I.L. Goremykin (1839-1917) thời ấy là bộ trưởng bộ nội vụ Nga. Để bênh vực những người bị nhà cầm quyền Nga trừng phạt do phát tán những tác phẩm bị cấm của ông, Tolstoi đã gửi thêm một bức thư nữa, với nội dung tương tự, cho bộ trưởng tư pháp V.N. Muraviev.

[Moskva, 20 tháng Tư 1896]

Thưa quý ông nhân từ Ivan Loginovich,

Tôi tìm đến ông, như một con người đến với một con người, với lòng kính trọng và thiện chí và mong ông cũng có thái độ như thế đối với thư của tôi. Chỉ với những tình cảm chân thành như vậy mới có thể có được sự thông hiểu và thỏa thuận.

Chuyện đụng chạm đến những truy nã mà các quan chức thuộc bộ cùa ông áp dụng chống lại những ai lưu giữ những tác phẩm bị cấm của tôi và cho những người khác mượn đọc theo yêu cầu của họ. Những truy nã như thế, như tôi được biết, nhiều người khác nhau đã phải chịu đựng. Một trong những trường hợp gần đây nhất đã xảy ra với nữ bác sĩ Kholevinskaya ở Tula, bà ta đã bị khám xét, bị bỏ tù và hiện nay đang bị hỏi cung vì tội giả định phát tán những tác phẩm của tôi.

Trường hợp này đáng kinh ngạc đặc biệt, bởi lẽ bà Kholevinskaya là một phụ nữ đã không còn trẻ, sức khỏe yếu, thần kinh rất không vững và cái chính bà ta là một con người khả kính cao độ, xét theo những phẩm chất của tâm tính và được tát cà mọi người quen biết kính trọng một cách rất xứng đáng.

Nguyên do của tất cả, như tôi được biết, là thế này: bà Kholevinskaya vốn quen biết và chơi thân với những con gái của tôi. Một công nhân ở Tula mấy lần viết thư cho tôi đề nghị cho ông ấy mượn đọc cuốn sách Tín ngưỡng của tôi[207]. Do không có trong tay một ấn bản nào và không quen biết người ấy, tôi đã không trả lời mấy bức thư liền của ông ta. Nhưng mùa đông vừa qua, lại nhận được thư cùng với lời yêu cầu ấy, tôi đã chuyển lá thư cho con gái tôi, nhờ tìm kỹ xem trong nhà chúng tôi có cuốn sách ấy không và nếu có thì gửi cho ông ấy. Con gái tôi cũng không tìm ra một bản in nào nhưng nhớ ra là cũng trong thành phố Tula, nơi người viết thư cho tôi cư trú, có bà Kholevinskaya là người có thể có một số sách cấm của tôi, cho nên đã gửi cho người viết thư ấy danh thiếp của mình với lời đề nghị bà Kholevinskaya nếu có thì cho ông ta mượn sách. Mấy dòng chữ ấy của con gái tôi viết cho bà ta đã trở thành cớ cho sự bắt giam và cho những hành hạ mà người ta đã bắt bà phải chịu.

Tôi cho rằng những biện pháp kiểu ấy là vô lý, vô ích, tàn nhẫn và cái chính là bất cồng. Chúng vô lý bởi vì không có và không thể có bất kỳ một giải thích nào cho việc vì sao trong số hàng ngàn người có những tác phẩm của tôi và cho những người quen mượn đọc lại bị chọn để truy bức một mình bà Kholevinskaya.

Những biện pháp ấy là vô ích vì chúng không đạt được một mục đích nào hết: không đạt được sự ngăn chặn, bởi lẽ cái họa mà người ta trù liệu ngăn chặn vẫn tiếp tục tồn tại giữa hàng vạn người mà không có thể bắt giữ và bỏ tù hết. Những biện pháp ấy tàn nhẫn, bởi vì đối với nhiều người ốm yếu và suy nhược thần kinh như bà Kholevinskaya thì những sự khám xét, hỏi cung và đặc biệt bỏ tù có thể trở thành nguyên nhân của những chứng bệnh tâm thần nặng, như đã xảy ra với bà Kholevinskaya, và thậm chí cả sự tử vong. Nhưng cái chính – những biện pháp ấy là bất công cực kỳ, bởi vì chúng không nhằm vào người là nguồn gốc phát sinh của cái mà chính phủ xem là họa.

Người ấy trong trường hợp này là tôi: tôi viết ra những sách ấy và bằng ngôn lời lẫn thành vãn phát tán những tư tưởng mà chính phủ xem là cái họa, vì thế nếu chính phủ muốn ngăn chặn cái họa ấy, không cho nó lan truyền, thì chính phủ phải hướng thẳng vào tôi tất cả những biện pháp trừng phạt giờ đây được sử dụng chống lại những người ngẫu nhiên phải chịu đựng chúng, mà toàn bộ cái tội của họ chỉ ở chỗ họ có một số sách bị cấm, họ quan tâm đến những sách ấy và cho những người quen mượn đọc. Chính phủ cần phải hành xử như thế còn bởi vì tôi không những không che giấu hoạt động của mình mà ngược lại, bằng cả bức thư này nữa, tuyên bố rằng chính tôi đã viết và đã phát tán những cuốn sách mà chính phủ xem là độc hại và hiện nay tiếp tục viết và truyền bá trong các tác phẩm cũng như thư từ và đàm thoại cũng vẫn những tư tưởng đã được nói ra trong những sách trước đây.

Cốt lõi của những tư tưởng ấy là loài người đã được khải thị về một lề luật không thể hồ nghi của Thượng Đế, đứng cao hơn tất cả mọi luật lệ của con ngưòi – theo luật ấy thì tất cả chúng ta không được thù địch, không được hà hiếp và cưỡng bức nhau mà ngược lại phải yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, phải đối xử với người khác như muốn được người khác đối xử với mình.

Những tư tưởng ấy, cùng với những kết luận thực tiễn phát xuất từ đấy, tôi đã diễn đạt như đã có thể diễn đạt trong những sách trước đây của mình và hiện giờ cố diễn đạt lại, rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn trong sách tôi đang viết. Cũng những tư tưởng ấy tội bày tỏ trong những cuộc đàm thoại và những thư từ mà tôi viết[208]. Cho những người quen biết cũng như không quen biết. Cũng những tư tưởng ấy tôi giờ đây trình bày với cả ông, chỉ ra những việc làm tàn ác và bạo ngược, đối nghịch với luật của Thượng Đế mà các quan chức trong bộ của ông đang tiến hành.

Gamaliel từng nói về sự truyền bá học thuyết Kitô giáo rằng, nếu công việc ấy xuất phát từ con người thì nó sẽ băng hoại, còn nếu xuất phát từ Chúa Trời thì không ai có thể phá hoại được nó; vì thế hãy cẩn trọng, đừng biến mình thành những kẻ chống lại Chúa Trời – những lời ấy mãi mãi là bài học về sự sáng suốt của nhà cầm quyền trong quan hệ với những hoạt động của con người. Nếu hoạt động ấy sai lầm, thì tự nó sẽ hủy hoại nó, còn nếu hoạt động ấy có nội dung là thực hiện một cơ đồ của Đấng Tối Cao, mà một cơ đồ như thế thời nay là sự thay thế nguyên tắc bạo lực bằng nguyên tắc tình yêu hữu lý, thì không một nỗ lực ngoại giới nào có thể đẩy nhanh hoặc trì hoãn sự thực hiện cơ đồ ấy.

Nếu chính phủ để cho những tư tưởng ấy được truyền bá không có cản trở thì chúng sẽ lan truyền dần dần và đều đặn; còn nếu chính phủ truy bức, như hiện nay đang làm, những ai đã hấp thụ những tư tưởng ấy và truyền bá cho những người khác, thì sự truyền bá những tư tưởng ấy giảm thiểu đến đâu trong giới những người rụt rè, yếu đuối và không có lập trường xác định thì sẽ lại tăng cường cũng bằng chứng ấy trong giới những người cứng cỏi, năng động và có xác tín. Vì thế tiến trình truyền bá chân lý sẽ không dừng lại, sẽ không chậm đi và cũng không nhanh lên, cho dù chính phủ có hành xử thế nào.

Quy luật phổ biến và bất biến của sự truyền bá chân lý, theo tôi, là như vậy và vì vậy điều thông minh nhất mà chính phủ có thể làm trong quan hệ với những tư tưởng không mong muốn là không làm gì cả, và lại càng không áp dụng những biện pháp không xứng đáng, tàn nhẫn và rõ ràng bất công như hành hạ những người vô tội chỉ vì họ làm cái mà hàng vạn những người khác đã và đang làm mà không bị truy nã.

Còn nếu như chính phủ cứ nhất quyết muốn không “vô vi”, mà trừng trị, răn đe và ngăn chặn cái mà họ xem là họa, thì điều ít phi lý hơn cả và ít bất công hơn cả mà họ có thể làm là tập trung tất cả các biện pháp trừng trị, răn đe hay ngăn chặn cái họa ấy để giáng xuống kẻ được chính phủ xem là nguồn gốc của nó, tức là giáng xuống chính tôi, nhất là bởi vì tôi tuyên bố sẽ không ngừng, cho đến khi chết, làm những gì mà chính phủ xem là ác hại nhưng tôi lại xem là nghĩa vụ thiêng liêng của mình trước Thiên Chúa.

Và xin các vị đừng nghĩ rằng khi tôi đề nghị hướng thẳng vào tôi những biện pháp bạo lực đang được dùng chống lại một số ngườỉ quen của tôi thì tôi giả định rằng sự áp dụng chống lại tôi bằng những biện pháp như thế sẽ gây ra một số khó khăn nhất định cho chính phủ, rằng tiếng tăm và vị trí xã hội của tôi che chở tôi khỏi những cuộc khám xét, hỏi cung, hục xuất, bỏ tù và những hành vi bạo lực còn tồi tệ hơn. Tôi không chỉ không nghĩ như thế mà còn đinh ninh rằng nếu chính phủ sẽ xử sự cương quyết với tôi, sẽ phát vãng, bỏ tù hay còn áp dụng những biện pháp mạnh hơn nữa, thì cái đó sẽ không kéo theo những khó khăn gì đặc biệt, và dư luận xã hội không những sẽ không phẫn nộ, mà đa phần dân chúng sẽ hoàn toàn tán thành kiểu hành động như vậy và sẽ nói lẽ ra phải làm như thế từ lâu rồi.

Chúa chứng giám cho là viet lá thư này, tôi không có ý muốn thách thức chính quyền hay bằng cách nào đó chơi trội, mà chỉ nghe theo một thôi thúc đức lý – đó là gỡ bỏ khỏi những người vô tội trách nhiệm vì những việc mà tôi làm, và cái chính – chỉ ra cho các nhân vật trong chính phủ, trong đó có ông, thấy tất cả tính tàn nhẫn, vô lý và bất công của những biện pháp đang được áp dụng và đề nghị ông, trong quyền năng của mình, chấm dứt những biện pháp ấy và giải phóng mình khỏi trách nhiệm tinh thần về chúng.

Tôi sẽ rất biết ơn ông nếu ông trả lời tôi bằng bức thư đơn giản, không nghi thức, ông nghĩ gì về những điều tôi phát biểu, và ông có đáp ứng hay không lời thỉnh cầu của tôi từ nay trở đi chuyển dịch tất cả những truy bức được xem là cần thiết sang cá nhân tôi – kẻ mà, theo quan điểm của chính phủ, xứng đáng phải hứng chịu chúng[209]. […]

25. Gửi A.M. Kalmykova

Tiểu dẫn – Alexandra Mikhailovna Kalmykova (1849-1926) là nữ văn sĩ cộng tác với nhà xuất bản Người trung gian (“Pospednik”) mà cột trụ tinh thần là Tolstoi. Nhiệt tình với việc mở mang học vấn của nhân dân, bà nhiều năm tham gia hoạt động của Ủy ban dân trí (Komitet gramotnosti) ở Peterburg – một tổ chức xã hội nghiên cứu những vấn đề lý thuyết giáo dục học, đồng thời tổ chức xuất bản sách phổ thông và mạng lưới thư viện bình dân. Năm 1896, chính phủ Sa hoàng đã ra quyết định cấm hoạt động của các ủy ban này, Kalmykova cùng mấy nhân vật chủ chết khác của ủy ban đã viết thư cho Tolstoi đề nghị ông bày tỏ thái độ đối với hành động này của chính phủ. Tolstoi đã tận dụng dịp để một lần nữa trình bày cặn kẽ lập trường không hợp tác triệt để với chính phủ của mình.

[Yasnay Polyana, 31 tháng Tám 1896]

Chị Alexandra Mikhailovna kính mến,

Tôi sẽ rất vui mừng được cùng chị và những cộng sự của chị – các ông Devel và Rubakin mà tôi biết và đánh giá cao hoạt động của họ – bảo vệ các quyền của ủy ban dân trí và chiến đấu vói những kẻ thù của sự mở mang học vấn cho dân, song vấn đề là tôi không trông thấy phương sách nào để kháng cự hữu hiệu trên con đường hoạt động mà các bạn đã chọn.

Tôi chỉ an ủi mình bằng ý nghĩ rằng tôi cũng không ngớt đấu tranh với cũng những kè thù ấy của dân trí, mặc dù bằng con đường khác.

Về vấn đề cụ thể đang khiến các bạn bận tâm thì tôi nghĩ rằng thay vì cái ủy ban dân trí đã bị giải thể có lẽ nên tổ chức nhiều những hội mở mang dân trí khác, cũng với những nhiệm vụ như thế nhưng tuyệt không phụ thuộc vào chính phủ, không xin bất kỳ giấy phép kiểm duyệt nào và cứ để cho chính phủ nếu muốn thì truy bức những hội ấy, trừng phạt phát vãng, v.v… Nếu chính phủ làm như thế thì nó sẽ chỉ tâng thêm ý nghĩa cho những cuốn sách tốt và những thư viện dân lập và đẩy mạnh phong trào khai trí.

Tôi thiết nghĩ, chính hiện nay việc đặc biệt quan trọng là làm những điều thiện một cách kiên trì và lặng lẽ, không những không hỏi ý kiến của chính phủ, mà có ý thức tránh sự tham gia của nó. Sức mạnh của chính phủ dựa trên sự dốt nát của dân và nó biết điều ấy và sẽ luôn luôn chống lại sự khai trí cho dân. Đã đến lúc chúng ta cần thấu triệt điều đó. Tạo điều kiện cho chính phủ, vốn chỉ muốn truyền bá bóng tối, làm ra vẻ bận tâm với sự khai sáng cho dân, như là những thiết chế hư mạo khác nhau do chính phu kiểm soát – những trường bình dân, trường trung học, đại hộc, những hội hàn lâm, những ủy ban và đại hội khác nhau – đang làm, nhiều khi là việc rất có hại.

Cái thiện là thiện và sự khai sáng là khai sáng chỉ khi nó là cái thiện tuyệt đối và sự khai sáng tuyệt đối, chứ không phải theo những thông tri của Delianov[210] và Durnovo[211]. Và cái chính là tôi luôn luôn xót xa nhận thấy những công sức quý giá, vô tư và đầy tinh thần tự hy sinh như thế lại bị tiếu phí kém năng suất đến thế. Đôi khi tôi chỉ thấy buộn cười chứng kiến cái cành những con người đôn hậu, thông minh cống hiến hết sức lực của mình cho cuộc đấu tranh với chính phủ trên cơ sở những luật lệ mà chính cái chính phủ ấy viết ra theo sự suy xét tùy tiện và vụ lợi của nó.

Vấn đề, theo tôi, là thế này:

Có những người, mà chúng ta thuộc về số ấy, biết rằng chính phủ của chúng ta rất tồi tệ và cố gắng đấu tranh với nó. Từ thời Radishev[212] và cánh tháng Chạp[213] thường được sử dụng hai phương thức đấu tranh:,một – của Stepan Razin, Pugachev, những người tháng Chạp, những người cách mạng thập niên 60, những nhà hoạt động ngày 1 tháng Ba[214] và những người khác; phương thức khác, được các bạn chủ trương và áp dụng – phương thức từng bước”, tựu trung là đấu tranh trên cơ sở hợp pháp, không dùng bạo lực, dần dần giành lấy quyền lợi cho mình.

Cả hai phương thức, như tôi nhớ, được áp dụng liên tục đã hơn nửa thế kỷ, mà tình hình thì càng ngày càng tồi tệ hơn; nếu tình hình có tốt lên chút nào thì cái đó có được không nhờ hai kiểu hoạt động nói trên, mà bất chấp sự tác hại của chúng (do những nguyên nhân khác, mà tôi sẽ nói đến sau), còn cái thế lực người ta đấu tranh với nó thì chỉ trở nên ngàỳ một hùng mạnh hơn, hơn và hỗn láo hơn. Những ánh lóe sáng cuối cùng của chế độ tự quản: những hội đồng địa phương[215], tòa án[216], những ủy ban của các bạn tất cả đều bị xóa sổ như là “những mơ ước hão huyền.”[217]

Giờ đây, khi đã quá nhiều thời gian trôi qua từ ngày cả hai phương sách vô bổ ấy được áp dụng, xem ra đã có thể thấy rõ cả phương sách này lẫn phương sách kia đều không thích hợp và vì sao chúng không thích hợp. Ít nhất đối với tôi, một người luôn luôn ghê tởm chính phủ của chúng ta nhưng không bao giờ dụng đến cả phương sách này lẫn phương sách kia để đấu tranh với nó – với tôi thì những khuyết điểm của cả hai phương sách là hiển nhiên.

Phương sách thứ nhất không dùng được bởi vì nếu như thậm chí có thể bằng bạo lực thay đổi được trật tự hiện hành thì sẽ không có gì bảo đảm là trật tự mới được thiết lập sẽ bền vững và những kẻ thù của nó trong những hoàn cảnh thuận lợi và cũng bằng cái bạo lực ấy sẽ không phục thù thắng lợi, như từng xảy ra nhiều lần ở Pháp và các nước khác, nơi đã xảy ra những cuộc cách mạng. Vì thế mà trật tự mới, được thiết lập bằng bạo lực, sẽ phải được duy trì thường xuyên cũng bằng cái bạo lực ấy, tức là bằng sự bất chính ấy, do đó nó cũng sẽ rất nhanh tha hóa y như cái trật tự mà nó đã thay thế. Còn nếu nó thất bại thì, như vẫn luôn luôn xảy ra ở ta, tất cả những bạo lực cách mạng, từ Pugachev đến ngày 1 tháng Ba, sẽ chỉ tiếp tay cho cái trật tự xã hội mà chúng hòng lật đổ, đẩy sang phe bảo thủ và thủ cựu vô số những người trước đó còn lưỡng lự đứng giữa, không theo phe này mà cũng không theo phe kia. Vì vậy tôi nghĩ rằng chỉ căn cứ vào kinh nghiệm và suy luận đã có thể mạnh dạn khẳng định rằng phương sách này, ngoài cái chuyện nó là vô luân – còn là phương sách kém thông minh và vô hiệu.

Nhưng phương sách thứ hai, theo ý kiến của tôi, lại còn kém thông minh hơn và vô hiệu hơn. Nó vô hiệu và kém thông minh bởi lẽ chính phủ, nắm trong tay toàn bộ quyền lực (quân đội, bộ máy hành chính, giáo hội, nhà trường, cảnh sát) và tự mình soạn ra những đạo luật, mà trên cơ sơ ấy phái tự do chủ nghĩa muốn đấu tranh với nó – cái chính phủ ấy, biết rất rõ cái gì là nguy hiểm cho nó, sẽ không bao giờ cho phép những người ở dưới quyền nó và hoạt động dưới sự chỉ đạo của nó làm bất kỳ những việc gì phá hoại quyền lực của nó. Thí dụ (chỉ cần lấy trường hợp cụ thể này) chính phủ, như ở ta (mà thực ra ở khắp mọi nơi) tồn tại trên sự ngu tối của dân chúng, sẽ không bao giờ cho phép khai sáng dân một cách thực sự.

Nó cho phép đủ mọi kiểu thiết chế ngụy khai sáng – trường bình dân, trường trung học, đại học; hội hàn lâm, các thứ ủy ban và đại hội và các loại xuất bản phẩm được kiểm duyệt, chừng nào những thiết chế ấy và những xuất bản phẩm ấy còn phục vụ những mục đích của nó, tức là làm ngu dân chúng hay ít nhất không cản trở sự làm ngu ấy; nhưng chỉ cần những thiết chế ấy và những xuất bản phẩm ấy ngo ngoe định làm lung lay cái cơ sở cho quyền lực của chính phủ, tức là sự ngu tối của dân, tức thì chính phủ tỉnh bơ và không thèm báo cáo với ai, vì sao nó lại hành xử thế này chứ không thế khác, nói lời “veto” của mình, cải tổ, đóng cửa cơ quan này tổ chức kia, đóng cửa nhà xuất bản này tờ báo kia. Vì thế mà, như thấy rõ được cả từ kinh nghiệm lẫn suy luận, sự đấu tranh nhằm từng bước giành lấy quyền lợi như vậy chỉ là hư ảo, chỉ là sự tự lừa dối, rất có lợi cho chính phủ cho nên thậm chí được nó khuyến khích.

Nhưng hoạt động này không chỉ vô hiệu và kém thông minh, mà còn có hại. Kiểu hoạt động này có hại, thứ nhất bởi vì khi những người có học, tốt bụng và lương thiện, gia nhập hàng ngũ của chính phủ thì họ mang lại cho nó một uy tín tinh thần mà không có họ thì nó sẽ không thể nào có được. Nếu mà chính phủ chỉ bao gồm rặt những nịnh thần hám lợi và bạo hành thô thiển, thì nó sẽ không thể tồn tại. Chỉ sự tham gia vào những công việc của chính phủ của những người có học thức và đạo đức mới đem đến cho chính phủ cái uy tín tinh thần mà nó có. Đây là mặt có hại trong hoạt động của những người thuộc phái tự do tham gia hay thỏa hiệp với chính phủ.

Thứ hai, kiểu hoạt động này có hại còn bởi vì, để có khả năng hoạt động, chính những người có học thức và đạo đức ấy bước vào những sự nhượng bộ và dần dần quen với ý nghĩ rằng vì mục đích tốt đẹp có thể thoái nhượng một chút chân lý trong lời nói và việc làm. Có thể, thí dụ, không thừa nhận tôn giáo hiện hữu mà vẫn thực hành những nghi lễ của nó, có thể tuyên thệ, có thể cung cấp những địa chỉ gian trá, trái ngược với phẩm giá con người, nếu cái đó là cần cho thắng lợi của công việc, có thể gia nhập quân đội, có t ể tham gia các cơ quan tự quản không có một quyền hành gì, có thể làm thầy giáo, giáo sư giảng dạy không phải những cái mà mình cho là cần thiết, mà chỉ những thứ chính phủ chỉ định, thậm chí có thể lãnh đạo các tổ chức dân lập thực hiện những chỉ thị và yêu cầu của chính phủ đi ngược lại lương tâm của mình, có thể ra báo và tạp chí, ỉm đi những gì cần nói và in ra những gì được sai in.

Và khi đã bước vào những thỏa hiệp như thế, mà giới hạn không thể nào lường trước được, thì những người có học thức và đạo đức, mà chỉ họ mới có thể hợp thành một hàng nào đó cho chính phủ trong sự xâm hại tự do của dân chúng, một cách không thấy được, mỗi ngày một lìa rời những yêu cầu của lương tâm mình và chưa kịp ngoái lại thì đã rơi vào thế phụ thuộc hoàn toàn vào chính phủ; nhận lương bổng và những phần thưởng của nó, họ tiếp tục hư tưởng rằng đang đưa vào đời sống những tư tường tự do, trong khi ấy thì từ lâu họ đã trở thành những đây tớ ngoan ngoãn và những kẻ nâng đỡ cho cái chế độ mà trước đây họ đã tuyên chiến với nó.

Thực tình mà nói, vẫn có những người tốt hơn, chân thành hơn trong phe ấy, họ không ngã lòng trước những mơn trớn của chính phủ, không để cho mình bị mua chuộc bởi lợi lộc và danh vọng. Nhưng họ đa phần cũng sẽ vướng mắc trong những lưới bẫy mà chính phủ đang bủa để tóm bắt họ, giãy giụa trong các thứ lưới ấy, như các bạn hiện giờ với những ủy ban của mình, giẫm chân tại chỗ mà không làm được gì hết, hoặc tức tối chạy sang với phe cách mạng, hoặc tự vẫn, hoặc đâm nghiện ngập rượu chè, hoặc vì tuyệt vọng mà sẽ từ bỏ tất cả hoặc, và cái này hay thấy hơn cả, sẽ rút vào văn chương, nơi mà khuất phục những yêu cầu của kiểm duyệt, họ sẽ chỉ nói những gì được nói, và bằng sự ém nhẹm cái quan trọng nhất ấy sẽ đưa vào công chúng những tư tưởng bị bóp méo nhất và đáng mong muốn cho chính phủ nhất mà lại cứ tưởng rằng bằng sự viết lách của mình, bảo đảm cho họ nguồn sống, họ phục vụ tiến bộ xã hội.

Thành thử cả kinh nghiệm lẫn sự suy xét đều chỉ ra cho tôi rằng cả hai phương sách đấu tranh chống lại chính phủ, từ trước và hiện nay vẫn được dùng, đều không những vô hiệu, mà cà hai còn giúp sức cho sự tăng cường quyền lực và sự lộng hành của chính phủ.

Thế thì phải làm gì? Hiển nhiên là không phải những gì mà trong vòng bảy chục năm đã tỏ ra là vô bổ và chỉ đạt tới những kết quả ngược lại. Nhưng cần phải làm những gì? Làm cái việc mà vẫn luôn luôn có những người làm, và chính nhờ hoạt động của những người ấy mà đã và đang diễn ra toàn bộ sự vận động hướng tới cái thiện và ánh sáng từ khi có thế giới này. Đấy, chính cái đó cần làm. Vậy nó là cái gì?

Là sự đơn thuần, lặng lẽ và trung thực làm những gì mà ta cho là hay và phải lẽ, hoàn toàn không phụ thuộc vào chính phủ, không phụ thuộc vào việc chính phủ có thích cái đó hay không. Hoặc nói một cách khác: bảo vệ những quyền của mình, không phải với tư cách một ủy viên ủy ban dân trí hay một hội thẩm viên, hay một điền chủ, một thương nhân, hay thậm chí một thành viên nghị viện, mà bảo vệ những quyền của mình với tư cách một con người hữu trí và tự do, mà bảo vệ không như người ta bảo vệ quyền của các cơ quan tự quản đỊa phương và các ủy ban, với những thoái nhượng và thỏa hiệp, mà không có một nhượng bộ và thỏa hiệp nào, giống như không thể bảo vệ một cách nào khác phẩm giá và phẩm chất đạo đức của con người.

Để giữ được thành trì, cần phải đốt hết mọi nhà cửa ở xung quanh và chỉ để lại cái mà ta bằng mọi giá quyết không giao nộp. Ở đây cũng hệt như thế: thoạt đầu cần phải thoái nhượng tất cả những gì có thể thoái nhượng và để lại chỉ cái không thể thoái nhượng. Chỉ khi đã cố thủ trên cái không thoái nhượng ấy chúng ta mới có thể chiến đấu giành lại hết thảy những gì cần thiết cho ta. Quả là quyền của một thành viên nghị viện hoặc dù chỉ của một hội đồng tự quản địa phương, hoặc của một ủy ban lớn hơn quyền của một thường dân và sử dụng những quyền ấy, ta có cảm tưởng rằng sẽ làm được rất nhiều điều; nhưng khốn nỗi để có được các quyền của nghị viện, hội đồng tự quản hay ủy ban, cần phải chối từ một phần những quyền của mình như là một con người.

Mà một khi đã chối từ một phần quyền con người của mình thì không còn lại một điểm tựa nào và không thể chiếm lĩnh cũng như bảo vệ bất kỳ một quyền lợi chân chính nào. Để lôi được những người khác ra khỏi bùn lầy tự mình phải đứng ở chỗ rắn, còn nếu như để tiện lôi hơn mà lại nhảy xuống bùn lầy thì sẽ chẳng lôi lên được những người khác, mà cả mình cũng sa lầy.

Rất có thể sẽ là tốt và hữu ích thông qua ở nghị viện đạo luật về ngày làm việc tám tiếng, hay ở ủy ban một chương trình tiến bộ về các thư viện ở trường học; nhưng nếu vì thế mà một nghị sĩ phải giơ tay lên tuyên thệ mà biết là mình dối lòng mình, hay cũng dối lòng thể hiện sự kính trọng đối với cái mà ánh ta không tôn trọng; hoặc, như trong trường hợp của chúng ta, để thực hiện được những chương trình tiến bộ nhất cần phải dự lễ cầu nguyện, tuyên thệ, mặc lễ phục, viết những tờ sớ dối trá và nịnh bợ và nói cũng những diễn từ như thế, v.v… thì làm tất cả những việc như thế và thoái nhượng nhân phẩm của mình, chúng ta đánh mất đi gấp bội so với thu nhận, và hướng tới chỉ một mục đích xác định (mà đích ấy đa phần lại cũng sẽ không đạt được), chúng ta tước đi của mình khả năng đạt tới những đích khác, quan trọng hơn cả. Bởi lẽ chỉ những người mà ở họ có cái gì đó mà họ sẽ không thoái nhượng với bất cứ giá nào và trong bất cứ điều kiện nào – chỉ những người như thế mới có thể kiềm chế và chống lại chính phủ.

Để có sức chống lại, cần phải có chỗ dựa. Và các chính phủ biết rất rõ điều đó và họ chủ yếu và trước hết cố gắng làm sao tẩy trừ đi trong con người cái không thể thoái nhượng – nhân phẩm. Khi nhân phẩm đã bị tẩy trừ ra khỏi những con người, thì chính phủ yên tâm làm hết thảy những gì cần cho nó, biết rằng nó sẽ không gặp phải sự chống lại đích thực. Một người chấp thuận thề thốt trước công chúng, phát biểu những lời tuyên thệ dối trá, không xứng đáng với con người, hoặc mặc lễ phục ngoan ngoãn chờ mấy tiếng liền để được viên bộ trưởng tiếp, hoặc tự nguyện đăng ký canh gác lễ tấn phong hoặc vì phép lịch sự mà nhịn ăn và làm lễ cầu nguyện, v.v… – một người như thế không còn đáng sợ cho chính quyền nữa […]

Và tôi nghĩ, sẽ không thể có tất cả những cái đó, nếu như những người có học và có đức hướng mọi sức lực của mình không vào cái việc là dưới những hình thức được chính chính phủ lập ra bằng cách nào đó cố đánh lừa nó yà bắt nó hành động một cách có hại, thậm chí nguy hại cho mình[218], mà chỉ vào cái việc là không trong trường hợp nào tham gia chính phủ- hay những việc có liên quan đến chính phủ, chỉ bảo vệ cho bằng được những quyền con người của cá nhân mình.

“Các vị muốn thiết lập, thay vì những trọng tài hòa giải, những cấp chỉ huy tự quản mới, với roi vọt trong tay – đó là việc của các vị, nhưng chúng tôi sẽ không phục tùng các cấp chỉ huy ấy và cũng sẽ không nhận những chức vụ ấy; các vị muốn biến tòa án của những hội thẩm viên thành một trò hình thức thuần túy – đó là việc của các vị, nhưng chúng tôi sẽ không làm chánh án, không làm luật sư, không làm hội thẩm viên; các vị muốn dưới chiêu bài giữ gìn trật tự cướp đi mọi quyền của dân – đó là việc của các vị, nhưng chúng tôi sẽ không dính líu vào đó và sẽ gọi thẳng thắn tình trạng bất quyền là bất quyền và những cuộc xử tử không xét xử là những cuộc giết người; các vị muốn lập ra những trường trung học cổ điển với những giờ luyện tập quân sự và giờ học thánh luật và những trường thiếu sinh quân – đấy là việc của các vị; nhưng chúng tôi sẽ không dạy học ở trong những trường ấy và không cho con cháu của chúng tôi đến đấy học mà sẽ giáo dục chúng như chúng tôi thấy cần phải giáo dục;

các vị muốn vô hiệu hóa hoàn toàn các cơ quan tự quản địa phương – chúng tôi sẽ không tham gia chúng nữa; các vị cấm in ấn những gi các vị không ưa – các vị có thể bắt bớ, đốt sách, trừng phạt những người in, nhưng các vị không thể cản trở chúng tôi nói và viết, mà chúng tôi sẽ tiếp tục nói và viết; các vị ra lệnh tuyên thệ trung thành với Sa hoàng – chúng tôi sẽ không làm, bởi vì cái đó là sự ngu si, dối trá và đê tiện, các vị ra lệnh chúng tôi nhập ngũ, thực hiện quân dịch – chúng tôi sẽ không làm việc ấy, bởi vì chúng tôi coi sự giết người hàng loạt cũng trái ngược với lương tâm như giết hại một người; và cái chính chúng tôi xem sự thề hứa giết ai mà cấp trên ra lệnh là hành vi đê tiện nhất mà con người có thể làm; các vị tuyên tín một tôn giáo tụt hậu hàng nghìn năm so với thời đại, với Đức Mẹ Iverskaya[219]; với những thánh tích và những lễ thụ phong – đó là việc của các vị, nhưng chúng tôi sẽ không những không thừa nhận sự thờ bái thần tượng và cuồng tín là tôn giáo mà sẽ gọi chúng bằng những tên thật và sẽ cố gắng giải cứu nhân loại khỏi những tai họa ấy.” Và chính phủ có thể làm gì đối với những hoạt động như thế?

Có thể đày ải, bỏ tù người vì tội chế tạo bom hoặc thậm chí in truyền đơn kêu gọi công nhân, có thể chuyển ủy bạn dân trí từ bộ này sang bộ khác hoặc giải thể nghị viện; nhưng chính phủ có thể làm gì với một người không muốn giơ tay lên nói dối trước công chúng, hay không muốn cho con mình vào học cái trường mà anh ta xem là xấu, hay không muốn học giết người, hay không , muốn tham gia khấn bái thần tượng, hay không muốn tham dự những lễ thụ phong, những cuộc đón tiếp và những thư từ tập thể mà chỉ quyết tâm nói và viết những gì anh ta suy nghĩ và cảm thấy? Trụy bức một người như thế, chính phủ sẽ biến anh ta thành một kẻ tử vì đạo, được mọi người đồng cảm và sẽ tự phá hủy những cơ sở tồn tại của mình, bởi lẽ thay vì bảo vệ những quyền con người của mọi người, chính nó lại vi phạm những quyền ấy.

Mà chỉ cần những người có học và có đức, mà sức lực hiện giờ đang bị phí phạm một cách có hại cho họ và cho công việc trong những hoạt động cách mạng, xã hội chủ nghĩa và tự do chủ nghĩa – chỉ cần họ bắt đầu hành xử như thế, thì tức khắc sẽ hình thành một hạt nhân của những con người có đức, có học và độc lập và nó sẽ thu hút toàn bộ cái đám người đông đảo trung lập và luôn luôn nghiêng ngả, và sẽ xuất hiện cái thế lực duy nhất có thể chinh phục chính phủ, – dư luận xã hội đòi tự do ngôn luận, tự do tín ngưởng, công lý và nhân đạo. Mà khi đã có một dư luận xã hội như thế, thì sẽ không những không đóng cửa được các ủy ban dân trí, mà còn tự chúng sẽ tiêu biến tất cả những thiết chế bất nhân của sự canh gác, kiểm duyệt, với mật thám, Schlisselburg, thánh vụ viện mà các nhà cách mạng và phá tự do giờ đây đang phải đấu tranh với chúng khó nhọc đến thế.

Thành thử để đấu tranh với chính phủ đã được thử nghiệm hai phương sách – cả hai đều không thành công và bây giờ cần phải thử nghiệm phương sách thứ ba còn chưa được thử mà theo ý kiến của tôi thì nó lại không thể không hữu hiệu. Phương sách ấy, nói ngắn gọn tựu trung là làm sao cho tất cả mọi người có học và có đức cố gắng trở nên tốt hơn, thậm chí không phải tốt hơn về mọi phương diện, mà chỉ trong một phương diện – cụ thể là giữ gìn một trong những đức tính sơ đẳng của mình – trung thực, không dối trá, mà hành xử và nói năng như thế nào đó để cho đứa con trai bảy tuổi của ta và yêu ta hiểu được những động cơ hành động của ta; hành động thế nào để cho đứa con ấy của ta không nói:

“Cha ơi, tại sao lúc ấy cha đã nói như thế, mà bây giờ lại làm hoặc nói hoàn toàn khác?” Phương sách này tưởng chừng rất yếu ớt, nhưng tôi đinh ninh rằng chỉ một mình nó thúc đẩy loài người đi lên phía trước từ khi có loài người.[220] Tôi đinh ninh bởi vì cái mà lương tâm đòi hỏi – mà lương tâm là linh cảm cao nhất về chân lý khả tri đối với con người – bao giờ và trong mọi phương diện đều là cái hoạt động cần thiết nhất và hiệu năng nhất. Chỉ có con người sống phù hợp với lương tâm mình mới có thể có ảnh hưởng tốt đối với những người khác. Và những hoạt động phù hợp với lương tâm của những con người ưu tú nhất của xã hội bao giờ cũng là những hoạt động cần thiết cho lợi ích của loài người trong thời điểm này.

Xin các bạn thứ lỗi cho tôi đã viết nhiều như thế và viết những điều có thể hoàn toàn không cần thiết cho các bạn, nhưng đã lâu tôi muốn được nói về vấn đề này. Tôi thậm chí đã bắt đầu viết một bài viết dài về điều này[221], nhưng chưa chắc đã kịp hoàn thành trước khi chết, vì vậy mà muốn dù một cách qua quýt nhưng vẫn phát biểu. Mong các bạn thư thứ, nếu tôi sai ở những điểm đó.

Chân tình siết chặt tay các bạn.

Lev Tolstoi

31 tháng Tám 1896

26. Gửi N.A. Liubimov

Tiểu dẫn – Nicolai Alexeevich Libimov (1830-1896) là Giáo sư Vật lý Trường Đại học Tổng hợp Moskva và nhà hoạt động xã hội có tên tuổi, từng trao đổi thư từ với Dostoievki. Bị lây nhiễm định kiến về Tolstoi như một “tử thủ” trong khoa học, ông đã gửi tặng Tosltoi một công trình cơ bản của mình “Lịch sử vật lý học. Thử nghiên cứu logic của các phát minh trong lịch sử của chúng.” (Peteburg, 1896), cùng với một bức thư dài tranh luận với Tolstoi về vai trò của khoa học trong xã hội hiện đại.

Dưới đây là thư trả lời của Tolstoi.

[Moskva, 17 tháng Chạp 1896]

Nicolai Alexeevich kính mến,

Rất cảm ơn ông đã gửi cho tôi công trình tuyệt vời của mình, tôi nói tuyệt vời vì đã xem qua nó và biết, căn cứ vào những tác phẩm trước của ông, cái nghệ thuật trình bày chính xác và rõ ràng của ông. Đối tượng cuốn sách của ông là đối tượng kỳ thú nhất trong lĩnh vực khoa học, bởi vì lịch sử khoa học là chính khoa học cộng với lịch sử hoạt động của trí tuệ con người theo một hướng nhất định. Nhưng với những suy xét của ông về việc mục đích sống của con người là mở mang tri thức với tất cả những hệ quả (thực tiễn, như tôi nghĩ ông ngụ ý) phát sinh từ đấy thì tôi không thể nào đồng ý.

Những tri thức vật lý, đặc biệt nếu như để có được chúng không cần thiết phải tiêu tốn những sức lực tốt nhất của đời mình lẫn đời người khác, là một việc làm vô hại, thú vị và có thể có lợi, nhưng mục đích cuộc sống, theo tôi, không phải ở sự mở mang những tri thức như thế, mà ở sự hoàn thiện đạo đức cá nhân và xã hội, ở sự thiết lập vương quốc của Chúa Trời trong trái tim mình và trên mặt đất. Còn sự mở mang tri thức với những hệ quả phát sinh từ đấy thì hoàn toàn độc lập đối với sự hoàn thiện đạo đức cũng như sự hoàn thiện đạo đức không phụ thuộc vào những tri thức vật lý; chúng có thể ăn khớp mà cũng có thể mâu thuẫn với nhau.

Ông khêu gợi tôi bày tỏ ý kiến của mình về ý nghĩa của các khoa học vật lý và tự nhiên nói chung, cho nên tôi cho phép mình bày tỏ. Tôi cho rằng không một khoa học riêng biệt nào và cà khoa học nói chung cũng không được đòi cho mình quyền có ý nghĩa cao nhất và duy nhất; sự đòi hỏi như vậy là phi khoa học cao độ, bởi vì nó không có một căn cứ nào ngoài ý muốn của những người làm khoa học được nghĩ rằng họ làm một công việc quan trọng nhất trên đời và vì vậy mà họ được tự do khỏi những yêu cầu được đưa ra bởi một công việc thực sự cao cả nhất – sự thực hiện ý chí của Thượng Đế, tức là tôn giáo.

Theo tôi, để cho khoa học có thể chiếm giữ một cách chính đáng cái vị trí thích hợp với nó và xứng đáng được tôn trọng thì nó phải luôn luôn nhớ rằng nó là một việc làm trung tính, tựa như mọi nghề (mặc dù là một trong những nghề tinh xảo nhất) mà tự nó không mang trong mình một phẩm giá nào và có thể được sử dụng có lợi cũng như có hai cho con người; chỉ khi ấy thì nó mới là một cách sử dụng thời gian tốt, cũng như mọi lao động. Nhưng chỉ cần khoa học tuyên bố một mình nó có ý nghĩa cao nhất, chỉ cần nó đứng vào chỗ mà chỉ có đạo đức mới có thể đứng, như gần đây người ta thường làm và như ông bày tỏ trong thư của ông[222], thì nó trở thành một cách sử dụng thời gian đã không tốt, mà rất có  hại. Tôi xin nhắc lại lời cảm ơn của mình vì sự tặng sách và vì bức thư đầy thiện cảm của ông.

27. Gửi S.A. Tolstaya

Tiểu dẫn – Như ta biết, bi kịch cuộc đời của Tolstoi là ở chỗ ông đã không thuyết phục được gia đình, trước hết là vợ mình thay đổi lối sống cho phù hợp với lý tưởng đạo đức hình thành nơi ông trong những thập niên cuối đời. Do sự bất đông không thể khắc phục với vợ, ông đã sớm có ý định bỏ nhà ra đi, được bày tỏ rất rõ ràng trong bức thư này. Thư đã không được giao cho Sophia Andreyevna, nhưng đã được cất giấu kỹ và theo ý nguyện của Tolstoi sau khi ông qua đời đã được chuyển cho vợ ông.

[Yasnaya Polyana, 8 tháng Bảy 1897]

Sonya thân yêu

Đã từ lâu anh bị giày vò bởi sự không phù hợp giữa cuộc sống với những xác tín của anh. Bắt em và các con thay đổi lối sống của mình, những thói quen của mình, mà chính anh đã truyền thụ – anh đã không thể làm, bỏ gia đình ra đi cho đến giờ anh cũng không thể, vì nghĩ rằng làm thế thì anh sẽ tước đi của các con, chừng nào chúng cốn nhỏ tuổi, cái ảnh hưởng cho dù nhỏ bé, nhưng anh vẫn có thể có được đối với chúng và làm cho em và chúng buồn phiền; nhưng tiếp tục sống như anh đã sống 16 năm qua, lúc thì tranh luận và làm cho em và các con phát tức, lúc thì tự ngả theo những cám dỗ bao vây mình và mình cũng đã quen với chúng – anh cũng không có khả năng nữa và giờ đây anh đã quyết định làm cái mà anh đã muốn từ lâu – ra đi; thứ nhất bởi vì đối với anh, với tuổi tác mỗi năm môt gia tăng, cuôc sống hiện nay ngày càng trở nên nặng nhọc hơn và anh ngày càng khao khát hơn sự cô đơn, và thứ hai, bởi vì các con đều đã lớn khôn, và ảnh hưởng của anh trong gia đình không cần thiết nữa, và cả em và các con đều có những mối quan tâm sống động hơn, chúng sẽ làm cho sự vắng mặt của anh ít được nhận thấy.[223]

Song cái chính là, tựa như người Ấn Độ cứ đến tuổi 60 thì vào rừng- ống, tựa như bất cứ một người già mộ đạo nào cũng muốn dành những năm cuối đời mình cho sự phụng sự Thượng Đế, chứ không phải cho những trò bông lơn cợt nhả, phao tin bịa chuyện, cầu lông với quần vợt, anh cũng thế, bước vào tuổi 70, chỉ tha thiết mong muốn sự tĩnh lặng ấy, sự cô đơn ấy, và cho dù không phải sự phù hợp hoàn toàn, thì cũng không phải sự mâu thuẫn gay gắt giữa đời sống của mình với những tín niệm, với lương tâm của mình.

Nếu anh làm việc ấy một cách không giấu giếm, thì chắc chắn sẽ có những lời van xin, lên án, tranh luận, ta thán và anh sẽ mềm lòng và có thể sẽ không thực hiện ý định của mình, mà nó phải được thực hiện. Vì thế anh xin em và các con hãy tha thứ cho anh nếu hành vi của anh sẽ gây đau cho em và các con, và cái chính trong lòng mình em, Sonya, hãy thả anh ra một cách tự nguyện, đừng tìm anh, đừng ta thán, đừng lên án anh.

Việc anh bỏ em ra đi không chứng tỏ rằng anh bất mãn về em. Anh biết em đã không thể, theo nghĩa chữ đã không thể và hiện giờ vẫn không thể nhìn nhận và cảm thụ như anh, vì thế mà đã không thể và hiện nay vẫn không thể thay đồi lối sống của mình và hy sinh cho cái mà em không nhận thức được. Và vì thế anh không lên án em, mà ngược lại, với lòng yêu mến và biết ơn nhớ lại 35 năm dài dằng dặc của cuộc sống chung của chúng ta, đặc biệt nửa đầu của thời kỳ ấy, khi mà em, với tinh thần tự hy sinh của người mẹ là đặc tính của em, đã rắn rỏi và cần mẫn đến thế chịu đựng những gì mà em coi là thiên chức của mình. Em đã cho anh và cho đời cái mà em có thể cho, đã cống hiến tất cả tình yêu và đức hy sinh của người mẹ, và không thể không đánh giá cao em về mặt này. Nhưng trong giai đoạn cuối của cuộc sống chúng ta, 15 nãm trở lại đây, chúng ta đã không còn tâm đầu ý hợp nữa. Anh không thể nghĩ rằng anh có lỗi, bởi vì anh biết rằng anh đã đổi thay không phải vì mình, mà vì mọi người và anh không thể làm khác được. Anh cũng không thể buộc tội em đã không đi theo anh, và anh cảm ơn em và với lòng yêu mến đang nhớ và sẽ nhớ những gì mà em đã cho anh. Vĩnh biệt, Sonya thân yêu.

Yêu em, Lev Tolstoi

8 tháng Bảy 1897

28. Gửi Edward Garnett

Tiểu dẫn – Edward Garnett (1868-1937), nhà văn và nhà phê bình văn học có tên tuổi người Anh, đầu tháng 6 năm 1900 gửi tới Tolstoi một bức thư cho biết tạp chí Harper’s Magazine của Mỹ sẵn sàng đăng một bài giới thiệu của ông ta về tiểu thuyết Phục sinh của Tolstoi vừa mới phát hành, với điều kiện là cũng trong số tạp chí ấy sẽ có thư ngỏ của Tolstoi gửi nhân dân Mỹ.

Thư trả lời của Tolstoi được viết bằng tiếng Anh và hiện được lưu giữ trong thư viện trường Đại học Harvard (Mỹ).  

[Yasnaya Polyana, 21 tháng Bảy 1900]

Thưa quý ông nhân từ,

Xin cảm ơn ông vì bức thư của ông đề ngày 6 tháng Bảy. Khi tôi đọc nó tôi có cảm tưởng rằng không thể gửi một thông điệp nào tới nhân dân Mỹ.

Nhưng đêm qua, suy nghĩ một lần nữa, tôi cảm thấy nếu tôi được nói với nhân dấn Mỹ thì tôi sẽ bày tỏ với họ lòng biết ơn của tôi vì sự giúp đỡ lớn mà tôi đã nhận được từ các văn sĩ của họ thịnh phát trong những năm năm mươi. Tôi sẽ nhắc đến Garrison, Parker, Emerson, Ballou và Thoreau[224], không phải như là những văn sĩ lớn nhất, mà như là những người mà tôi nghĩ đã ảnh hưởng đặc biệt tới tôi. Trong số các tên tuổi khác tôi muốn gọi đến: Channing, Whittier, Lowell, Walt Whitman[225] – một chùm sao lộng lẫy mà hi hữu mới có thể tìm thấy một cái gì đó tương tự trong văn học toàn thế giới.

Và tôi muốn được hỏi nhân dân Mỹ, vì sao họ không để ý nữa đến những tiếng nói ấy (mà vị tất có thể thay thế được bằng những tiếng nói của Gould, Rockfeller, Carnegie hay thủy quân đô đốc Dewey[226]) và vì sao họ không tiếp tục cái công việc tốt đẹp mà họ đã khởi đầu thành công đến thế.

Xin ông chuyển lời hỏi thăm của tôi đến phu nhân ông. Tôi mượn dịp để một Ịần nữa cảm ơn bà ấy đã dịch rất tốt Vương quốc của Thiên Chúa ở trong ta.[227]

Thành kính,

Lev Tolstoi

29. Gửi Pietro Mazzini

Tiểu đẫn – Nhân dịp khánh thành cầu mang tên Sa hoàng Alexander III ở Paris (1901), nhà báo Ý Pietro Mazzini, thời ấy làm phóng viên thường trú ở Paris, đã gửi thư cho Tolstoi đặt một số câu hỏi liên quan đến hiệp ước quân sự Nga – Pháp được ký kết năm 1892.

Thư phúc đáp này của Tolstoi đã được đăng trên nhiều tờ báo nước ngoài.

[Yasnaya Polyana, 3 tháng Chín 1901]

Thưa quý ngài,

Câu trả lời của tôi cho câu hỏi đầu tiên của quý ngài về việc nhân dân Nga nghĩ gì về liên minh Pháp – Nga? – là như sau:

Nhân dân Nga, nhân dân đích thực, không có một tí quan niệm gì về sự tồn tại của hên minh này; nhưng giả sử họ có được biết đi nữa về liên minh này thì, tôi tin chắc là, – bởi lẽ đối với họ tất cả các dân tộc đều là bất phân biệt như nhau – cho nên lý trí lành mạnh cũng như tinh thần nhân đạo sẽ chỉ cho họ thấy rằng cái liên minh đặc biệt này với một dân tộc được ưa chuộng hơn bất kỳ một dân tộc nào khác không thể có một mục đích nào khác, ngoài lôi kéo họ vào sự thù địch, và có thể, vào những cuộc chiến tranh với các dấn tộc khác, vì thế mà liên minh này sẽ là đáng ghét cao độ đối với họ.

Đối với câu hỏi: nhân dân Nga có chia sẻ niềm hân hoan của nhân dân Pháp hay không? – tôi thiết tưởng có thể trả lời rằng nhân dân Nga không những không chia sẻ niềm hân hoan ấy (nếu nhiệt tình ấy có thực, điều mà tôi hồ nghi dữ lắm), mà giả sử họ biết được về tất cả những gì được làm và được nói ở Pháp về cái liên minh này thì nhiều phần hơn họ sẽ có cảm giác không tin cậy và mất cảm tình đối với một dân tộc mà không có một căm cứ hữu lý nào bỗng dưng bắt đầu thể hiện một tình yêu đặc biệt và bất ngờ đối với họ.

Về câu hỏi: là thế nào ý nghĩa của liên minh này đối với nền văn minh nói chung? – thì tôi nghĩ và tôi có quyền khẳng định rằng, bởi lẽ liên minh này không thể có một mục đích nào khác, ngoài chiến tranh chống lại các dân tộc khác, cho nên ảnh hưởng của nó không thể không là ác hại. Còn nếu nói về ý nghĩa của liên minh này đối với cả hai dân tộc đã ký kết nó thì cả trong quá khứ lẫn trong tương lai nó đã và sẽ là điều tai ác rất lớn cho cả hai dân tộc. Chính phủ Pháp, báo chí và cái bộ phận của xã hội Pháp tâng bốc liên minh này đã và sẽ còn phải chấp thuận những nhượng bộ và thỏa hiệp lớn hơn nữa, đi ngược lại những truyền thống của một dân tộc tự do và nhân đạo để mà làm bộ hay thực tình tỏ ra đồng thuận trong ý định và tình cảm với một chính phủ độc tài nhất, lạc hậu nhất và tàn ác nhất ở toàn châu Âu. Và đỉều đó đã và sẽ là một thiệt hại lớn cho nước Pháp.

Trong khi ấy thì đối với nước Nga, liên minh này, nếu nó vẫn tiếp tục, đã và sẽ có một ảnh hưởng còn tai hại hơn nhiều. Từ ngày ký kết cái liên minh tệ hại này chính phủ Nga, trước kia e ngại và tính đến ý kiến cả châu Âu, bây giờ đã không con lo lắng gì về việc ấy nữa; cảm thấy mình được hậu thuẫn bởi tình hữu nghị quái lạ từ phía một dân tộc được cho là văn minh nhất thế giới, bây giờ nó ngẩng cao đầu nện bước bên cạnh các bạn Pháp trong tiếng nhạc “Marseillaise” xen lẫn với bài tụng ca khúm núm “cầu Thiên Chúa phù hộ cho Sa hoàng của chúng con” (hai nhạc phẩm này chắc phải ngạc nhiên lắm nhận thấy mình ở bên nhau) và càng ngày càng trở nên phản động hơn, độc tài hơn và tàn ác hơn.

Thành thử cái liên minh kỳ quái và bất hạnh này, theo ý kiến của tôi, không thể có một ảnh hưởng nào khác, ngoài ảnh hưởng tiêu cực nhất đối với lợi ích của cả hai dân tộc cũng như của cả nền văn minh nói chung […]

30. Gửi Nikolai đệ Nhị

Tiểu dẫn – Cuối 1901, Tolstoi bị viêm phổi nặng, các thầy thuốc yêu cầu gia đình phải đưa ông xuống khu bờ biển Crưm có khí hậu ấm áp thì mới có cơ may chữa cho ông khỏi bệnh. Trong thời gian Tolstoi điều dưỡng ở đấy một hoàng thân Nga, đại công tước Nikolai Mikhailovich Romanov, đã chủ động làm quen và bày tỏ lòng kính trọng lớn đối với ông. Mặc dù Tolstoi luôn luôn lên án gay gắt hoạt động của Sa hoàng cuối cùng Nikolai đệ Nhị (trị vì 1894-1917), ông đã nhờ hoàng thân Nikolai Mikhailovich trao tận tay cho vua Nga bức thư sau đây.

[Gaspra, 16 thặng Giêng 1902]

Hỡi người anh em khả ái,

Cách gọi như thế này tôi thấy là thích hợp hơn cả, bởi vì tôi viết lá thư này cho bệ hạ không hẳn như là cho một hoàng đế mà nhiều phần hơn như là cho một con người – một người anh em. Ngoài ra còn bởi vì tôi viết cho bệ hạ dường như từ thế giới bên kia, trong lúc chờ cái chết đang đến.

Tôi không đành lòng chết mà không được nói với bệ hạ những gì mà tôi nghĩ về hoạt động hiện nay của bệ hạ và việc hoạt động ấy lẽ ra có thể là thế năo và lẽ ra có thể mang lại lợi ích lớn thế nào cho hàng triệu con người và cho chính bệ hạ, song nó sẽ đem lại những tai ương lớn thế nào cho dân chúng và cho bệ hạ, nếu nó sẽ cứ tiếp tục theo hướng hiện giờ.

Một phần ba dân Nga đang sống trong tình cảnh bị canh gác nghiêm ngặt, tức là sống ngoài pháp luật. Đội quân cảnh sát – công khai và bí mật – ngày một gia tăng. Các nhà giam, các nơi đày ải và tù khổ sai, ngoài hàng trăm nghìn tù nhân hình sự, còn đầy ắp những tù nhân chính trị, mà hiện giờ ngay cả những người lao động cũng bị liệt vào loại ấy. Chế độ kiểm duyệt đã đi đến những cấm đoán lố bịch mà nó chưa đi tới ngay cả trong nhưng năm 40[228] tồi tệ nhất. Những truy bức tôn giáo chưa bao giờ diễn ra nhiều và tàn bạo như hiện nay và ngày một trở nên tàn bạo hơn và có tần số cao hơn. Khắp nơi, ở các đô thị và trung tâm công nghiệp quân đội được tập trung với súng ống đạn dược, sẵn sàng chiến đấu với dân chúng. Ở nhiều địa phương đã xảy ra những cuộc đổ máu huynh đệ tương tàn và chúng đang được chuẩn bị khắp nơi và tất yếu sẽ có những cuộc mới còn tàn nhẫn hơn nữa.

Và như là kết quả của toàn bộ cái hoạt động căng thẳng và quyết liệt ấy của chính phủ, dân chúng làm nông nghiệp -100 triệu người làm nền tảng cho sự hùng cường của nước Nga – bất chấp ngân sách quốc gia gia tăng quá xá hay chính do sự gia tăng ấy, mỗi năm một bần cùng hóa nhiều hơn, thành thử nạn đói đã trở, thành một hiện tượng hợp lệ. Và cũng trở thành một hiện tượng hợp lệ như thế sự bất mãn và thái độ thù địch chung đọi với chính phủ của tất cả mọi tầng lớp, đẳng cấp.

Và nguyên nhân của tất cả cái đó là rõ ràng đến hiển nhiên, và chỉ có một: đó là những trợ thủ của bệ hạ đã làm cho bệ hạ tin rằng bằng cách chặn đứng mọi chuyển động trong nhân dân họ sẽ bảo đảm đời sống no ấm cho nhân dân ấy cùng sự yên tĩnh và an ninh cho bệ hạ. Nhưng vấn đề là để chặn dòng chảy của con sông hơn là sự chuyển động về phía trước không ngừng, được Trời định của nhân loại. Dễ hiểu là những ai thu lợi từ trật tự sự vật như thế này, những ai trong thâm tâm luôn luôn tự nhủ: “après nous le déluge”[229] – những kẻ ấy có thể và cần phải làm cho bệ hạ tin như thế; nhưng đáng ngạc nhiên là bệ hạ, một con người tự do, không thiếu, thốn một cái gì và một con người đôn hậu và thừa trí khôn, lại có thể tin họ và nghe theo những khuyến dụ đáng khiếp của họ, lại làm hoặc cho phép làm bằng ấy những điều ác hại hòng thực hiện một ý định không thể thực hiện – chặn đứng sự vận động muôn đời của loài người từ cái ác tới cái thiện, từ bóng tối tới ánh sáng.

Bệ hạ không thể không biết rằng từ khi chúng ta biết được về đời sống của loài người, những hình thái của đời sống ấy, cả kinh tế và xã hội lẫn tôn giáo và chính trị, luôn luôn đổi thay, chuyển hóa từ những hình thái thô bạo hơn, tàn nhẫn và phi lý hơn sang những hình thái tế nhị hơn, nhân đạo và hữu lý hơn.

Những quân sư của bệ hạ nói với bệ hạ rằng cái đó không đúng, rằng nhân dân Nga trước đây yêu chuộng đạo Chính thống và chính thể quân chủ chuyên chế thế nào thì bây giờ vẫn yêu chuộng như thế và mãi mãi sẽ là như thế cho đến ngàỵ thế giới khánh chung, do đó vì hạnh phúc của nhân dân Nga cần phải bằng bất kỳ giá nào duy trì cả hai hình thức gắn bó với nhau ấy: những tín điều tôn giáo và tổ chức chính trị. Nhưng đây là sự dối trá nhân đôi. Thứ nhất, tuyệt không thể nói rằng đạo Chính thống xưa kia thích hợp với dân Nga thế nào thì bây giờ vẫn thích hợp như thế. Từ những báo cáo của ngài tổng giám đốc Thánh vụ viện bệ hạ có thể thấy là những ai có đầu óc mở mang nhất trong dân chúng, bất chấp mọi sự bất lợi và hiểm nguy mà họ phải hứng chịu, đều từ bỏ đạo Chính thống, mỗi năm một nhiều hơn gia nhập các giáo phái ly khai. Thứ hai, nếu quả là dân chúng yêu chuộng chính giáo thì việc gì phải ráo riết nâng đỡ cái hình thức tôn giáo này và truy bức tàn nhẫn đến thế những ai phủ nhận nó..

Còn nếu nói đến chính thể quân chủ chuyên chế thì cũng hệt như thế, nếu xưa kia nó thích hợp với dân Nga, khi mà những người Nga còn tin rằng Sa hoàng – đó là Thiên Chúa trong cõi trần và ngài một mình điều khiển toàn dân, thì giờ đây chính thể ấy còn xa mới thích hợp, khi mà hết thảy đều biết, hoặc chỉ cần được học một chút là biết được – thứ nhất rằng, một Sa hoàng hiền minh chỉ là “un heureux hasard”[230], rằng các Sa hoàng có thể là những kẻ đại gian đại ác hay điên rồ, như Ivan IV[231] hoặc Pavel[232], và thứ hai, rằng dù Sa hoàng có là người tốt bụng đến đâu, thì ngài vẫn không thể một mình điều khiển 130 triệu dân, và người điều khiển dân là những cận thần của Sa hoàng, lo nhiều hơn cả cho địa vị của mình chứ không cho lợi ích của dân. Bệ hạ sẽ nói: Sa hoàng có thể chọn làm trợ thủ cho mình những người vô tư và tốt bụng?

Khốn nỗi, Sa hoàng không thể làm được đỉều đó, bởi vì ngài chỉ quen biết mấy chục người, ngẫu nhiên hay bằng đủ mọi thủ đoạn đến gần được với ngài và bằng mội phương kế che khỏi mắt ngài những ai có thể thay thế chúng. Thành thử hoàng thượng phải lựa chọn không từ hàng ngàn người sống động, tháo vát, có học thực sự và trung thực, khaó khát được làm việc cho xã hội, mà chỉ từ những kẻ mà về chúng Beaumarchais từng nói: “Mediocre et rampant et on parvient à tout”[233]. Và nếu nhiều người Nga sẵn sàng tuân phục Sa hoàng thì họ không thể không cảm thấy bị nhục mạ khi phải tuân lệnh những kẻ cùng giới với họ mà họ khinh bỉ, nhưng chính những kẻ ấy thường mệnh danh hoàng thượng cai trị nhân dân.

Chắc bệ hạ bị đẩy tới quan niệm sai lầm về tình yêu của dân đối với chính thể quân chủ chuyên chế và đại diện của chính thể ấy – Sa hoàng bởi cái điều là khắp nơi, trong các cuộc đón tiếp bệ hạ ở Moskva và các thành phố khắc, dân chúng lũ lượt hô to “hura!” chạy theo bệ hạ. Xin bệ hạ đừng tin rằng đó là biểu hiện của lòng trung thành đối với bệ hạ – đó chỉ là những đám đông của những kẻ tò mò và hiếu kỳ, chúng sẽ chạy cũng như thế bất cứ một cảnh lạ mắt nào. Rất nhiều khi những kẻ ấy, mà bệ hạ tưởng là họ thể hiện tình yêu của nhân dân đối với bệ hạ, không phải là một cái gì khác mà chỉ là lũ người được cảnh sát tập hợp và sắp xếp với nhiệm vụ sắm vai quần chúng trung thành với bệ hạ, như điều đó đã xảy ra với ông nội của bệ hạ[234] ở Kharkov, nơi nhà thờ lớn hôm ấy chật ních dân chúng, nhưng dân chúng ấy toàn bộ là những cảnh sát cải trang.

Giá mà bệ hạ có điều kiện, như tôi, đi tới đi lui giữa những người nông dân được xếp hàng đằng sau binh lính trên toàn bộ tuyến đường sắt mà đoàn tàu của bệ hạ sẽ đi qua, và được nghe những người nông dân ấy: những lý trưởng, xóm trưởng, cụm trưởng, tổ trưởng bị lùa từ các làng lân cận đến và mấy ngày liền, không được trả công, với bánh mì của mình, đứng trong giá lạnh và bùn bẩn chờ đoàn tàu của bệ hạ đi qua, thì bệ hạ sẽ nghe được từ những đại diện thực thụ nhất của nông dân, của những người nông dân bình dị, trên suốt tuyến đường tọàn những lời không ăn khớp tí nào với tình yêu của nhân dân đối với chính thể quân chủ chuyên chế và đại diện của nó. Nếu 50 năm trước đây, dưới triều Nikolai đệ Nhất, uy tín của quyền lực hoàng đế còn khá cao thì trong vòng 30 năm trở lại đây nó không ngớt giảm sút và gần đây đã rơi thấp đến mức trong tất cả các tầng lớp nhân dân đã không ai còn e ngại lên án mạnh bạo không chỉ những mệnh lệnh của chính phủ, mà ngay cả Sa hoàng và thậm chí mắng chửi và cười nhạo hoàng thượng.

Quân chủ chuyên chế là hình thức trị dân đã lỗi thời, nó có thể đáp ứng những yêu cầu của dân chúng ở đâu đó như Trung Phi cách ly toàn bộ thế giới, chứ không phải những yêu cầu của dân Nga, càng ngày càng được khai minh bởi phong trào khai minh chung cho toàn thế giới. Vì vậy mà có thể duy trì cái hình thức cai trị ấy cùng với đạo chính thống gắn kết với nó chỉ bằng cách như hiện giờ đang làm, bằng đủ loại bạo lực: canh gác ráo riết, đày ải hành chính, xử tử, truy bức tôn giáo, ngăn cấm sách báo, xuyên tạc giáo dục, và nói chung bằng đù mọi việc làm xấu xa và tàn ác.

Cho đến nay, tất cả các việc làm dưới triều đại của bệ hạ đều là như thế. Bắt đầu từ câu trả lời của bệ hạ cho đoàn đại biểu của tình Tver, đã khiến cho cả xã hội Nga phải phẫn: nộ – bệ hạ đã gọi những nguyện vọng chính đáng nhất của dân là “những mơ ước hão huyền”[235], tất cả những mệnh lệnh của bệ hạ về Phần Lan[236], về những đánh chiếm ở Trung Quốc, cái đề án của bệ hạ về Hội nghị Hague đi đôi với lệnh gia tăng quân số[237], việc bệ hạ bóp nghẹt hệ thống tự quản và tăng cường sự lộng hành của bộ máy hành chính, sự ủng hộ của bệ hạ đối với những cuộc truy bức vì tín ngưỡng, sự đồng ý của bệ hạ thiết lập độc quyền về rượu, tức là nhân danh chính phủ buôn bán thuốc độc đầu độc nhân dân, và cuối cùng, sự ngoan cố của bệ hạ trong việc giữ những hình phạt thể xác, bất chấp mọi kiến nghị đã được gửi tới bệ hạ khuyến dụ bãi bỏ cái biện pháp vô nghĩa và hoàn toàn vô ích làm nhục cả dân tộc Nga ấy – tất cả cái đó đều là những hành vi mà lẽ ra bệ hạ có thể không làm nếu mà bệ hạ không nghe theo lời khuyên của các trợ thủ nông cạn của mình, không đặt ra cho mình một mục đích bất khả thi – không chỉ chặn đứng cuộc sống của nhân dân, mà còn quay gót trở về với tình trạng cũ, đã được vượt qua.

Bằng những biện pháp bạo lực có thể áp bức nhân dân, nhưng không thể điều khiển nó. Phương sách duy nhất thời nay, để mà thực sự điều khiển được dân, là đi đầu phong trào của dân, từ cái ác vươn tới cái thiện, từ bóng tối vươn tới ánh sáng, dẫn dắt nó đến những đích gần nhất trong cuộc vận động ấy. Nhưng để có khả năng làm điều đó, trước hết phải để cho dân có điêu kiện bày tỏ những nguyện vọng và nhu cầu của họ, và sau khi đã nghe hết những nguyện vọng và nhu cầu ấy, thực hiện những gì sẽ đáp ứng những yêu cầu không của một giai cấp hay tầng lớp mà của đa số dân chúng, của quảng đại nhân dân lao động.

Và những nguyện vòng mà hiện giờ nhân dân Nga sẽ bày tỏ, nếu nó được bày tỏ, theo tôi, sẽ là như sau:

Trước hết nhân dân lao động sẽ nói rằng họ ao ước được thoát khỏi những đạo luật phân biệt đối xử đặt họ vào tình cảnh những tiện dân không được hưởng quyền lợi của tất cả các công dân khác; sau nó họ sẽ nói muốn được tự do đi lại, tự do học tập và tự do tuyên tín cái tín ngưỡng đáp ứng những nhu cầu tinh thần của họ; vắ cái chính, tất cả 100 triệu dân sẽ đồng thanh nói muốn được tự do sử dụng đất đai, tức là xóa bỏ quyền sở hữu đất đai.

Và chính sự xóa bỏ quyền sở hữu đất đai ấy, theo tôi, là cái đích gần nhất mà chính phủ Nga thời nay phải đặt ra cho mình nhiệm vụ đạt tới.

Ở mỗi thời đại cua đời sống nhân loại có cái bậc tiến tới gần nhất, phù hợp với thời đại, trong quá trình phấn đấu thực hiện những hình thức đời sống tốt hơn mà lỗài người khao khát hướng tới. Năm mươi năm trước đây cái bậc gần nhất ấy đối với nước Nga là xóa bỏ chế độ nô lệ. Trong thời đại của chúng ta bậc tiến tới như’thế là giải phóng qụần chúng lao động khỏi ách thống trị của một thiểu số – cái được gọi là vấn đề lao động.

Ở Tây Âu người ta cho rằng mục đích ấy có thể đạt được thông qua sự chuyển giao các nhà máy và xưởng thợ vào tay những người công nhân để sử dụng chung. Bất cứ giải pháp ấy có đúng hay không và có khả thi hay không cho các dân tộc phương Tây – có điều hiển nhiên là không áp dụng nó được vào nước Nga trong tình trạng hiện thời. Ở Nga, nơi mà tuyệt đại đa số dân sống trên đất và phụ thuộc hoàn toàn vào những điền chủ lớn, sự giải phóng người lao động rõ ràng không thể đạt được bằng sự chuyển giao các nhà máy cho công nhân để sử dụng chung. Đối với nhân dân Nga, sự giải phóng như thế chỉ có thể đạt được bằng cách xóa bỏ sở hữu ruộng đất và tuyên bố đất đai là tài sản chung – cái mà bao lâu nay là nguyện vọng tha thiết của nhân dân Nga và sự thực hiện cái đó họ vẫn đang chờ đợi ở chính phủ.

Tôi biết những ý tưởng của tôi sẽ bị các cố vấn của bệ hạ xem là biểu hiện cực đoan của sự nông nổi nhẹ dạ và thiếu óc thực tiễn ở một con người không hiểu nổi tất cả những khó khăn của sự quản lý, nhà nước, đặc biệt là tư tưởng và sự công nhận toàn bộ đất đai là sở hữu của toàn dân; nhưng tôi cũng biết rằng để khỏi bị bắt buộc thực hiện những biện pháp bạo lực ngày càng tàn ác hơn đối với nhân dân, chỉ có một phương cách – biến thành nhiệm vụ của mình cái đích của những nguyện vọng tha thiết nhất của dân. Mà ở Nga cái đích như thế chỉ có thể là sự hủy bỏ sở hữu đất đai. Chi khi ấy thì chính phủ mới có thể, không bước vào những nhượng bộ không xứng đáng và miễn cưỡng trước các công nhân hhà máy và thanh niên học sinh như hiện nay, không lo sợ cho số phận của mình, thực hiện vai trò người lãnh đạo nhân dân mình và thực sự điều khiển nó.

Các cố vấn của bệ hạ sẽ nói với bệ hạ rằng giải phóng đất khỏi chế độ sở hữu là một hoang tưởng và một việc bất khả thi. Theo ý họ thì bắt 130 triệu dân đang sống không được sống nữa hay không bộc lộ những dấu hiệu của cuộc sống nữa và lùa họ trở lại vào trong cái vỏ mà họ đã thoát khỏi từ lâu – cái đó thì lại không là hoang tưởng và không những không là bất khả thi, mà còn là một việc khôn ngoan nhất và thực tiễn nhất. Nhưng chỉ cần suy nghĩ nghiêm túc một chút để hiểu ra được cái gì là bất khả thi, mặc dù nó đang được làm; và cái gì, ngược lại, không chỉ là khả thi mà còn là hợp thời và thiết yếu, mặc dù nó còn chưa được bắt đầu.

Cá nhân tôi nghĩ rằng trong thời đại ngày nay quyền sở hữu đất đai cũng là một sự bất công tày trời và hiển nhiên như là chế độ nông nô 50 năm về trước. Thiết nghĩ, sự xóa bỏ nó sẽ đặt nhân dân Nga lên một bậc cao của sự độc lập, thịnh vượng và toại nguyện. Tôi cũng nghĩ rằng biện pháp ấy, không nghi ngờ gì nữa, sẽ tiêu hủy tất cả sự bất mãn theo hướng sách mạng và chủ nghĩa xã hội mà hiện nay đang lan rộng trong giới công nhân và đe dọa mang đến những hiểm nguy lớn nhất cho cả nhân dân lẫn chính phủ.

Nhưng tôi có thể sai lầm, và sự giải quyết vấn đề ấy theo hướng này hay hướng khác lại chỉ có thể được đưa ra bởi nhân dân, nếu họ có được điều kiện phát ngôn.

Cho nên trong mọi trường hợp, việc đầu tiên mà chính phủ giờ đây phải lam, đó là hủy bỏ áp bức cản trở nhân dân bày tỏ những nguyện vọng và nhu cầu của mình. Không thể làm điều thiện cho con người mà chúng ta bịt miệng lại để khỏi nghe thấy anh ta mong muốn những gì vì lợi ích của anh ta. Chỉ khi hiểu biết những nguyện vọng và nhu cầu của toàn thể hay đa phần nhân dân, mới có thể điều khiển nó và làm điều thiện cho nó.

Hỡi người anh em khả ái, chúng ta chỉ sống một lần trong thế giới này, và người anh em có thể một cách đầy đau khổ tiêu phí cuộc đời mình cho những nỗ lực vô vọng chặn đứng sự vận động được Chúa Trời định trước của loài người từ cái ác tới cái thiện, từ bóng tối tới ánh sáng, song cũng có thể bằng cách thấu hiểu những nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân và cống hiến cuộc đời mình cho sự thực hiện chúng, sống trọn đời bình yên và sung sướng trong sự phụng sự Thượng Đế và loài người.

Cho dù trách nhiệm của ngưòi anh em có to lớn đến đâu trong những năm trị vì, mà trong thời gian ấy ngài có thể làm nhiều điều thiện và nhiều điều ác, nhưng còn lớn hơn cái trách nhiệm của ngài trước Thượng Đế về cuộc đời của mình ở nơi đây, mà sự sống vĩnh hằng của ngài lại phụ thuộc vào đó, cái cuộc đời mà Thượng Đế đã ban cho ngài không để ngài ra lệnh làm đủ mọi điều ác hại hoặc can dự vào chúng hay dung túng cho chúng mà để ngài thực hiện ý nguyện của Người. Mà ý nguyện của Người là không làm cái ác, mà làm cái thiện cho mọi người.

Mong ngài hãy nghĩ về điều đó, không trước dân chúng, mà trước Thượng Đế và hãy làm những gì mà Thượng Đế, tức là lương tâm của ngài sẽ nói với ngài. Hãy đừng bối rối trước những trở ngại mà ngài sẽ vấp phải nếu bước lên con đường sống mới. Những trở ngại ấy sẽ tự tiêu tan, và ngài sẽ không nhận ra chúng nữa, nếu như ngài sẽ làm mọi việc không vì vinh quang giữa loài người, mà vì linh hồn mình, tức là vì Thượng Đế.

Mong bệ hạ tha thứ cho tôi, nếu tôi vô. tình xúc phạm hay làm buồn phiền ngài vì những gì đã viết trong lá thư này. Cái hướng dẫn tôi chỉ là lòng mong muốn hạnh phúc cho nhân dân Nga và cho ngài. Tôi có đạt được cái đó hay không – tương lai sẽ quyết định, cái tương lai mà theo mọi xác suất, tôi sẽ không được thấy. Nhưng tôi đã làm cái tôi cho là bổn phận của mình[238].

Chân tình mong muốn mọi điều chân phúc cho ngài.

Người anh em của ngài, Lev Tolstoi

16 tháng Giêng 1902

31. Gửi một nhóm nhà văn và nhà khoa học Thụy Điển

Tiểu dẫn — Tháng Chạp năm 1901, giải thưởng Nobel đầu tiên về văn học được trao cho nhà thơ Pháp không mấy lỗi lạc S. Prudhomme, trong khi dư luận thế giới chờ đợi giải được trao cho Tolstoi. Một nhóm nhà khoa học và nhà văn Thụy Điển, trong đó có những cây bút lớn như Strinberz và Lazerlof đã gửi đến Tolstoi mọt bức thư tập thẻ bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với nhà văn Nga và sự không tán thành quyết định của Viện hàn lâm Thụy Điển.

Thư trả lời của Tolstoi viết bằng tiếng Pháp.

22 tháng Giêng 4 tháng Hai 1902

Những người anh em và đồng nghiệp quý mến và kính mến,

Tôi rất hài lòng vì giải Nobel đã không được trao cho tôi. Thứ nhất, nhờ đó tôi đã không vấp phải một khó khan – sử dụng thế nào số tiền ấy mà, như tiền bạc, theo xác tín của tôi chỉ có thể mang lại điều ác; và thứ hai, tôi đã có vinh dự và niềm vui thú lớn nhận được những thể hiện cảm thông từ nhiều người đến thế, mà mặc dù cá nhân tôi không quen biết nhưng tôi vẫn kính trọng sâu sắc.

Xin các bạn, những người anh em thân mến, nhận lấy từ tôi sự thể hiện lòng biết ơn chân thành và những tình cảm tốt đẹp nhất.

Lev Tolstoi

32. Gửi S.N. Tolstaya

Tiểu dẫn – Do bận sáng tác và hoạt động xã hội, Tolstoi thực ra đã dành không nhiều thời gian để giáo dục trực tiếp những người con của mình, nhưng về già thì ông quan tâm hơn đến việc giáo dưỡng thế hệ cháu. Thư này được viết cho một trong những người con dâu, vợ con trai thứ hai – Ilya Lvovich, trong thời gian Tolstoi điều dưỡng ở Crưm.

[Gaspra, 15 tháng Năm 1902]

Sonia yêu quý, cha rất mừng có dịp nói chuyện nghiêm túc với Ilya về việc giáo dục con cái. Điều mà hai cha con rõ ràng đồng thuận, nhưng chỉ là điều phủ định – đó là cần phải dạy con càng ít càng tốt. Bởi lẽ nếu con cái lớn lên mà không học được một điều gì đó – thì cái đó tuyệt không tai hại như là việc mà thường xảy ra với hầu hết các con trẻ, đặc biệt khi mà những người mẹ của chúng lãnh đạo sự giáo dục chúng nhưng không hiểu biết về những môn học mà chúng được dạy – cụ thể là chúng bị bắt học nhiều quá cho nên chán ghét sự học hành. Trẻ em hay người lớn có thể học, và học tốt, chỉ khi nó hứng thú đối với cái nó học. Không thì việc học trở thành cái hại, cái hại khủng khiếp, biến những con người thành những kẻ tàn phế. Soma yêu quý, nếu con không hoàn toàn đồng ý với cha thì hãy vì Chúa mà tin lời của cha, tin rằng nếu như việc này không phải là việc quan trọng đến thế, thì cha đã không viết về vấn đề này cho con. Và cái chính, con hãy tin chồng con, nó nhìn nhận vấn đề hoàn toàn hợp lý.

Nhưng đến đây thì thông thường người ta sẽ phản bác: nếu bọn trẻ không học thì chúng sẽ làm gì? Đánh cờ xương và chơi đủ mọi trò ngu ngốc và tệ hại với con nông dân hay sao? Với lối sinh hoạt địa chủ của chúng ta lời phản bác này có lý. Nhưng lẽ nào cần dạy cho con cái quen với lối sống địa chủ, tức là quen với việc chúng luôn luôn biết rằng mọi nhu cầu của chúng đều được ai đó và bằng cách nào đó thỏa mãn mà không cần chúng phải tham gia tí nào vào sự thỏa mãn ấy. Vì thế mà cha nghĩ rằng điều kiện đầu tiên của sự giáo dục tốt là làm sao cho đứa trẻ biết rằng tất cả những gì mà nó dùng không rơi sẵn từ trên trời xuống mà là sản phẩm lao động của những người khác.

Hiểu rằng tất cả những gì nuôi sống nó đều là lao động của những người khác, không quen biết nó và không yêu quý gì nó – cái đó đã là quá nhiều đối với trẻ (chỉ mong sao nó sẽ hiểu được điều đó khi đã lớn khôn), nhưng hiểu ra rằng cái bô của nó được người vú em hoặc người hầu đổ và rửa sạch tuyệt không phải vì họ thích làm việc ấy, và cũng như thế, những giày ủng của nó luôn luôn được cọ và rửa sạch để cho nó đi – tat cả những cái đó được làm không phải một cách tự nhiên và không phải vì người ta yêu quý nó mà vì những nguyên nhân khác mà nó chưa hiểu được – cái đó thì nó phải hiểu và phải thấy xấu hổ. Còn nếu nó không thấy xấu hổ và nghiễm nhiên tiếp tục sử dụng những thứ ấy thì đó là khởi đầu của một nền giáo dục tồi tệ nhất và nó sẽ để lại những dấu ấn rất sâu cho cả cuộc đời. Song để tránh được cái đó thì lại thật đơn giản; và chính điều ấy cha, nói bằng ngôn ngữ cao siêu, trong khi chờ thần chết đến với mình, van xin con làm cho những đứa con của mình.

Hãy để cho tất cả những gì mà chúng có thể làm lấy – đổ bô, xách nước, rửa bát, quét dọn buồng, đánh giày, bày bàn ăn, v.v?.. – chúng sẽ làm lấy. Con hãy tin cha, dù những việc ấy có là vặt vãnh đến đâu, chúng quan trọng cho hạnh phúc của những đứa còn của con gấp trăm lần so với việc biết tiếng Pháp, hay lịch sử, v.v… Có điều, ở đây xuất hiện một khó khăn chính; con cái chỉ hào hứng làm những gì mà cha mẹ chúng cũng làm, vì vậy cha van xin con (con giỏi lắm, cha biết con làm được) – hãy làm những việc ấy. Cho dù Ilya sẽ không làm (mặc dù có thể hy vọng nó cùng sẽ làm) thì điều đó sẽ không cản trở mấy đâu.

Vì Chúa, vì hạnh phúc của những đứa con của mình con hãy suy nghĩ kỹ điều đó. Cái đó sẽ một lúc đạt được hai đích: vừa tạo cho bọn trẻ điều kiện không phải học nhiều đến thế, mà lại sử dụng thời gian một cách bổ ích nhất và tự nhiên nhất, vừa tạo cho chúng điều kiện sống giản dị, cần cù và tự lập. Cha xin con, xin con hãy làm như thế đi. Và ngay trong tháng đầu tiên, con sẽ vui mừng và các con của con sẽ còn vui hơn. Nếu có thể thêm vào đấy một vài công việc của nghề nông, chẳng hạn trồng rau, thì sẽ rất tốt – có điều cái đó đa phần trở thành trò chơi. Nhưng sự tự chăm sóc cho mình và đổ rửa bô cho mình thì ở tất cả các trường tiên tiến nhất đều được xem là cần thiết, như ở trường Bedales[239] chính hiệu trưởng cũng tham gia những việc như thế.

Con hãy tin cha, Sonia ạ, rằng không có điều kiện ấy thì tuyệt không thể có một nền giáo dục hữu luân, nền giáo dục Kitô giáo, không thể có ý thức rằng tất cả mọi người trên đời đều là anh em và bình đẳng. Đứa trẻ còn có thể hiểu được rằng người lớn, bố nó – một chủ nhà băng, một thợ tiện, một họa sĩ, một người quản trị nuôi sống gia đình bằng lao động của mình, có thể giải phóng mình khỏi những công việc khiến anh ta không thể dành toàn bộ thời gian cho lao động kiếm sống. Nhưng làm thế nào một đứa trẻ, còn tuyệt chưa thể hiện mình trong cuộc đời, còn chưa biết làm gì cả, lại có thể giải thích cho mình cái việc là những người khác làm thay nó cái việc mà theo lẽ tự nhiên nó phải làm lấy?

Cách giải thích duy nhất đối với nó là loài người chia thành hai hạng – chủ và đầy tớ, và cho dù chúng ta có giải thích bao nhiêu bằng lời cho nó về sự bình đẳng và tình huynh đệ giữa người với người, những điều kiện sống của nó, từ lúc buổi sáng tỉnh dậy đến bữa ăn tối, lại chỉ ra cho nó cái ngược lại.

Và nó sẽ không những không tín nữa vào những lời dạy của người lớn về đạo đức, nhưng trong thâm tâm nó sẽ nhận ra rằng mọi lời dạy ấy đều dối trá và sẽ không tin nữa cả bố mẹ lẫn những thầy cô giáo của mình, thậm chí sẽ không còn tín vào sự cần thiết của bất kỳ một thứ đạo đức nào.

Một gợi ý nữa: nếu không thể làm được tất cả những gì mà cha nói ở trên, thì ít nhất cũng phải bắt bọn trẻ làm những việc mà nếu không làm thì sự bất lợi sẽ thấy được ngay: thí dụ, chưa chải, chưa phơi khô quan áo, giày dép để đi chơi – thì không được đi chơi, hoặc chưa xách nước về nhà, chưa rửa bát đĩa – thì không có nước uống. Cái chính là trong những việc như thế đừng sợ ridicul[240]. Chín phần mười những việc làm tồi tệ trên thế gian được làm bởi vì nếu không làm thì sẽ ridicul.

Cha và bạn của con. Lev Tolstoi

33. Gửi A.A. Tolstaya

[22 tháng Chạp 1903]

Cô Alexandrine, người bạn già yêu quý, đôn hậu của cháu ơi,

Tania Kuzminskaya[241], cảm ơn cô ta, đã viêt cho cháu vê cô, vê bệnh tình của cô, rằng cô đã yếu lắm rồi và theo những suy xét trần tục của chúng ta thì tuồng như đã rất gần đất xa trời. Cháu cũng từng rất gần đất xa trời như thế[242], nhưng cô thấy đấy cháu vẫn chưa chết và đôi khi lấy làm tiếc về điều ấy – hồi ấy cháu câm thấy sung sướng đến thế sắp được từ giã cõi đời – không biết lần khác có được sung sướng như thế không? Nhưng đôi khi cháu lại mừng vì cháu nghĩ rằng cuộc sống già nua của chúng ta không những không vô ích, như người ta hay nghĩ, mà lại có ý nghĩa hơn cả, xét theo ảnh hưởng mà những người già có thể gây cho những người khác. Với tình cảm tôn giáo nồng thắm và trái tim vàng của mình, có lẽ cô đã từng và giờ đây đang trải nghiệm cái trạng thái bừng ngộ mà sự đau ốm đem lại và không chỉ có lẽ mà chắc chắn còn mạnh mẽ hơn xưa kia, làm lan tỏa xung quanh tình yêu và lòng đôn hậu.

Cháu viết lá thư này chỉ để nói với cô rằng trong quan hệ với cô cháu luôn luôn cảm thấy tình yêu và lòng đôn hậu ấy của cô, và cảm thấy được điều đó, cháu trở nên tốt hơn. Ngoài ra cháu còn muốn nói với cô rằng cô đừng nghĩ – nếu cô đã nghĩ – chúng ta bị chia rẽ bởi tín ngưỡng. Tín ngưỡng của cháu và của cô và của tất cả những người tốt (xin cô thứ lỗi cho cháu đã không khiêm tốn liệt mình vào số những người ấy) là thống nhất: là niềm tin vào Đức Chúa Cha đã sai chúng ta xuống thế gian để thực hiện ý nguyện của Người.

Mà ý nguyện của Người là sao cho chúng ta yêu thương nhau và đối xử với người khác như ta muốn được họ đối xử với ta. Còn cái việc là cháu đã thực hiện ý chí ấy không tốt và bây giờ vẫn thực hiện không tốt, không làm cháu hoang mang, bởi vì cháu biết Chúa là tình yêu và Người biết rằng cháu đã cố gắng, nhất là trong thời gian gần đây, thực hiện ý chí của Người không vì sợ bị trừng phạt, mà bởi lẽ cháu càng thực hành nhiều hơn ý chí của Người thì càng thấy mình sống hạnh phúc hơn. Và cháu tin chắc cô cũng tin y như thế. Còn nếu cháu không tin vào một số chi tiết cục bộ mà cô tin thì cháu thiết tưởng rằng, do có cái quan trọng nhất liên kết chúng ta, cho nên cái đó không quan trọng và không thể chia rẽ chúng ta.

Cháu nhớ, khi cháu đã rất gần vói cái chết, và đầu óc đã từ chối làm việc, và cháu cố diễn đạt thái độ của mình đối với cuộc chuyển dịch sắp tới từ một đời sống này sang đời sống khác, thì cháu chỉ tìm thấy trong mình một tư tưởng, một tình cảm, một lời nói với Chúa; cháu nói với mình: con đã phát xuất từ Cha và con đang trở về với Cha. Và cái đó đã diễn tả được tất cả những gì mà cháu cảm thấy, và nó trấn an cháu, làm cháu vui lòng. Cháu đinh ninh, cô cũng cảm thấy như thế, và tình cảm này một lần nữa lại gắn bó chúng ta.

Nếu ai đó đọc thư này của cháu cho cô nghe thì cô hãy bảo người ấy viết cho cháu vài lời, cô cảm thấy mình thế nào và cô có mãn nguyện không.

Chào tạm biệt, người bạn yêu quý của cháu, cô hãy tin vào tình yêu chân thành của cháu đối với cô và lòng biết ơn vì tất cả những gì tốt lành mà cô đã cho cháu trong nửa thế kỷ tình bạn của chúng ta.[243]

Lev Tolstoi

34. Gửi Iso Abe

Tiểu dẫn – Iso Abe là nhà hoạt động xã hội Nhật theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, chủ bút báo “Heimin Shinbun Sha” ra bằng tiếng Anh. Năm 1904, trong khi chiến tranh Nhât — Nga đang diễn ra, báo này đã đăng lại từ báo Times của Anh bài viết dài “Hãy tỉnh ngộ” của Tolstoi lên án kịch liệt cuộc chiến tranh ấy. Sau đó cũng báo ấy đã đãng môt bài viết khuyêt danh Ảnh hưởng của Tolstoi ở Nhật Bản, đề cao vai trò và vị trí quốc tế của Tolstoi như một nhà tư tương nhân đạo chống chiến tranh, truyền bá tình huynh đệ và sự bình đẳng giữa mọi dân tộc trên thế giới. Đầu tháng Chín năm 1904, Iso Abe đã viết thư cho Tolstoi và gửi tới ông hai số báo đăng lại bài viết của ông và số báo đăng bài viết về ông.

Dưới đây là thư trả lời của Tolstoi.

23 tháng Chín / 5 tháng Mười [1904] 

Tula. Yasnaya Polyana

Người bạn Iso Abe quý mến,

Với tôi là niềm vui sướng lớn nhận được thư ông và tờ báo của ông với bài viết bằng tiếng Anh[244].

Mặc dù tôi không bao giờ hồ nghi rằng ở Nhật Bản có rất nhiều người hữu trí hữu đức và mộ đạo phản đối cái tội ác tày trời – cuộc chiến tranh đang diễn ra giữa hai dân tộc bị đánh lừa và làm mê muội, nhưng tôi vẫn rất vui mừng nhận được bằng chứng nói lên điều đó.

Với tôi là một niềm vui lớn được biết ở Nhật Bản tôi có những bạn đọc và cộng tác viên mà tôi có thể giao lưu như với những người bạn.

Do muốn chân thành đến cùng với ông, cũng như với bất cứ một người bạn đáng kính nào, tôi phải nói với ông rằng tôi không tán thành chủ nghĩa xã hội và lấy làm tiếc rằng một bộ phận tiên tiến nhất về mặt trí óc của dân tộc thông minh và năng động của ông đã vay mượn của châu Âu cái lý thuyết xã hội chủ nghĩa yếu kém, hư trá và lừa đảo mà ở ngay châu Âu đang bắt đầu đánh mất những tín đồ của mình.

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là thỏa mãn một mặt cỏn con của bản chất con người – phúc lợi vật chất, mà lại bằng những phương sách mà với chúng cái mục tiêu ấy sẽ không thể đạt được. Phúc lợi chân chính của loài người là phúc lợi đạo đức – tinh thần, bao trùm cả phúc lợi vật chất. Và cái mục tiêu cao nhất ấy có thể đạt tới chỉ bằng sự hoàn thiện tâm linh, tức là đạo đức của tất cả các cá thể hợp thành các dân tộc và nhân loại.

Dưới từ tâm linh tôi hiểu niềm tin hữu lý vào luật của Thượng Đế được ban hành cho toàn thể loài người và được thể hiện bằng điều răn: hãy yêu thương tất cả mọi người và hãy làm cho người khác cái ta muốn người làm cho ta.

Tôi biết, phương sách ấy bị coi là kém hợp đích so với chủ nghĩa xã hội cùng các lý thuyết bấp bênh hư ảo khác, nhưng đó là phương sách duy nhất đúng đắn. Và những nỗ lực được đổ ra để thực hiện những lý thuyết sai lầm và không bao giờ đạt đích ấy chỉ cản trở chúng ta áp dụng cái phương sách duy nhất đúng đắn để đạt tới hạnh phúc cho toàn thể loài người cũng như cho từng cá nhân riêng biệt, nó cũng là phương sách thích hợp nhất đối với thời đại của chúng ta.

Mong ông tha thứ cho tôi đã dám mạnh bạo bàn thảo với ông về những xác tín của ông, tha thứ cho tiếng Anh tồi tệ của tôi và luôn luôn tin tôi là người bạn chân tình của ông.

Lev Tolstoi

35. Gửi M.A. Taube

Tiếu dẫn – Đầu tháng 11 năm 1903 luật gia Nga M.A. Taube đã liên hệ bằng thư với Tolstoi đề nghị ông giúp đỡ để cho một bài nghị luận dài của ông mang tiêu đề “Đạo Kitô với hòa bình thế giới” được công bố dưới dạng một cuốn sách mỏng ở nhà xuất bản Posrednik, nơi tiếng nói Tolstoi có ảnh hưởng quyết định.

Sau đây là thư trả lời của Tolstoi.

[Yasnay Polyana, 18-19 tháng Chạp 1903]

Anh Mikhail Alexandrovich quý mến,

Xin lỗi

anh đã không phúc đáp ngay thư anh. Hôm nay tôi mới nhận được bài viết của anh và đọc ngay và viết cho anh. Bài viết dưới hình thức mối rất tốt và đọc nó, tôi đã trải nghiệm, cũng như lần đầu, một cảm giác thỏa mãn hoàn toàn và một nhận thức về thu hoạch tinh thần.

Tôi tiếc là anh đã bỏ đi những suy xét về pháp quyền quốc tế trong thời cổ đại và đặc biệt về lý tưởng hòa bình trong đạo Công giáo. Cái cuối cùng ấy rất lý thú và bằng sự đối lập của mình với lập trường Kitô giáo chủ quan càng làm nổi bật lập trường ấy.

Ngoài ra tôi còn có cảm tường rằng khi anh nói về những biểu hiện của lý tưởng hòa bình trước đạo Kitô trong đạo Do Thái, đạo Phật và ở các nhà khắc kỷ thì anh đã bỏ qua biểu hiện của lý tưởng ấy, mà lại dưới hình thức diễn đạt rất mạnh và xác định ở người Trung Hoa, ở Khổng Tử và Lão Tử.

Chỉ một điều làm tôi phiền lòng khi đọc bài viết tuyệt vời này, đó là ý nghĩ rằng nó sẽ không lọt qua được kiểm duyệt của chúng ta. Những người bạn của tôi sẽ cố gắng làm sao cho nó lọt qua, và được sự đồng ý và cho phép của anh sẽ cố gắng làm mềm mại hoặc bỏ đi một số đoạn có thể sẽ bị cấm. Nhưng để cho bài viết của anh được công bố và đưa vào trong ý thức của dân chúng cái ánh sáng mà nó phải đưa vào, tôi muốn kiến nghị với anh thế này: in nó ở nước ngoài bằng tiếng Nga hay tiếng Anh, nếu không tìm được người nhận in bằng tiếng Nga.[245]

Anh nghĩ thế nào? […]

Tôi đã đọc lại bài của anh và muốn có thêm mấy nhận xét sau đây. Theo tôi, sự đánh giá của anh về cả đạo Phật lẫn thuyết khắc kỷ đều không đúng hay, nhiều phần hơn, không đầy đủ. Đạo Phật cũng như thuyết khắc kỷ dạy rằng bản chất chân chính của con người không ở thân xác luôn luôn không được tự do và đau khổ của nó, mà ở nhận thức tinh thần không thể bị ràng buộc, o ép và vì thế mà cũng không biết đau khổ là gì. Đạo Phật đặt mục đích giải thoát khỏi khổ đau, thuyết khắc kỷ hướng tới cái chân phúc của cá nhân. Vì vậy chủ nghĩa khổ hạnh không phải là mục đích hay lý tưởng của đạo Phật. Còn phán xét của giáo sư về chủ nghĩa khắc kỷ thì hoàn toàn không đúng […]

Chủ nghĩa khắc kỷ quả thật làm nổ tung những phiến đá mà từ chúng được dựng lên tòa nhà của thế giới ngày nay, nhưng sự phá hủy ấy hếu có hại đi nữa cho sự tồn tại của pháp quyền quốc tế, như nó hiện nay được hiểu, thì lại rõ ràng có lợi cho nhân loại, bởi vì nó phá hủy cái chia rẽ loài người.

Các học thuyết Phật giáo và khắc kỷ, cũng như các học thuyết của các nhà tiên tri Do Thái, đặc biệt học thuyết được biết đến dưới tên Isaye, và cả những học thuyết Trung Hoa của Khổng Tử, Lão Tử và Mặc Tử (người còn ít được biết đến), tất cả đều xuất hiện gần như cùng một lúc, khoảng vào thế kỷ thứ 6 trước Kitô – tất cả đều như nhau nhìn thấy bản tính con người ở tinh tinh thần của nó, và đây là công lao lớn nhất của chúng. Song chúng khác biệt với đạo Kitô xuất hiện sau chúng ở chỗ chúng dừng lại ở sự thừa nhận tính tinh thần của con người, nhìn thấy ở sự thừa nhận ấy cứu sách và hạnh phúc cho cá thể con người. Còn đạo Kitô thì rút ra một kết luận tiếp nối. Xuất phát từ sự việc con người nhận thức được bản chất tinh thần của mình, theo cách diễn đạt Kitô giáo, từ việc mỗi con người nhận ra được trong mình một đứa con của Thiên Chúa, đạo Kitô tuyên cáo khả năng và sự cần thiết tạo lập trên trái đất vương quốc của Thiên Chúa, tức là vương quốc của hạnh phúc chung, bao hàm cả khái niệm về hòa bình trên toàn thế giới.

Nội dung quan trọng của bài viết của anh đã khơi gợi cho tôi những nhận xét ấy, mong anh thứ lỗi cho tôi, nếu anh thấy chúng không thích hợp.

36. Gửi Trương Trịnh Tông

Tiểu dẫn – Trương Trịnh Tông là một luật gia Trung Hoa được đào tạo và sống ở Nga đầu thế kỷ XX. Cùng với nhà Trung Quốc học người Nga A.N. Voznesensk ông đã dịch ra tiếng Nga tác phẩm Lịch sử chính trị Trung Hoa bốn mươi năm trở lại đây của Lương Khải Siêu. Sau khi sách được in (1905) Trương Trịnh Tông đã gửi tặng Tolstoi cùng với một bức thư dài nói lên những nhận định của mình về sự gần gũi tinh thần giữa hai dân tộc Trung Hoa và Nga và bày tỏ nguyện vọng đóng góp vào việc thắt chặt tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nhân dân, xin phép Tolstoi được dịch ra tiếng Trung một số tác phẩm của ông. Sau đây là thư trả lời của Tolstoi, viết ngay sau khi nhận được của Trương Trịnh Tông.

Yasnaya Polyana, 4 tháng Chạp, 1905]

Thưa quý ông nhân từ,

Cuốn sách của quý ông[246] và đặc biệt bức thư của quý ông đã đem lại cho tôi một niềm vui lớn. Trong suốt cuộc đời dài dằng dặc của mình tôi đã có dịp làm quen với một số người Nhật, nhưng chưa bao giờ được gặp gỡ và quan hệ với một người Trung Quốc nào, mà tôi lại rất mong muốn điều đó, bởi vì từ lâu tôi biết khá kỹ, mặc dù chắc là còn xa mới đầy đủ, cũng như mọi người Âu châu, những học thuyết tôn giáo và triết học của Trung Hoa: chưa nói đến Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử với những chú giải đời sau, tôi đặc biệt kinh ngạc bởi học thuyết của Mặc Tử đã bị Mạnh Tử phản bác. Lòng kính trọng thường hằng nơi tôi đối với dân tộc Trung Hoa lại càng tăng cường đến mức cao nhất do những sự kiện của chiến tranh Nhật – Nga khủng khiếp[247]. Trong cuộc chiến tranh ấy nhân dân Trung Quốc đã làm nên một kỳ côhg, mà trước kỳ công ấy không chỉ tan thành mây khói mọi thắng lợi của Nhật Bản, mà còn hiện ra trong ánh sáng thật, đáng ghê tởm tất cả sự điên rồ và tàn nhẫn của chính phủ Nga và Nhật.

Kỳ công của người Trung Hoa là họ đã cho thấy rằng chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc không ở trong bạo lực và giết chóc, mà ở sự giữ vững cho đến cùng tinh thần nhẫn nhục, né tránh cái ác, thà chịu đựng chứ không áp dụng bạo lực[248]. Nhân dân Trung Quốc, trong những cuộc xâm lăng đê tiện trước đây của các dân tộc ngụy Kitô giáo chống lại họ, cũng như trong cuộc chiến tranh gần đây, bất chấp mọi hành vi tàn ác của những kẻ xâm lược, đã cho thấy rằng họ thấm nhuần hơn tinh thần thực thụ của đạo Kitô, hay nói đúng hơn, nhận thức sâu hơn cái chân lý phổ biến và vĩnh hằng làm cơ sở cho mọi học thuyết tôn giáo, trong đó có Kitô giáo, sâu hơn rất nhiều so với các dân tộc Kitô giáo và chính phủ Nga (tôi nhớ đến nhận xét đúng đắn của ông về sự khác biệt giữa nhân dân và chính phủ).

Tôi chưa đọc cuốn sách của ông, vì mới nhận được hôm nay. Nhưng cứ suy từ thư ông thì tôi ngại rằng sẽ không đồng tình với khuynh hướng của nó. Đọc thư ông, tôi có cảm tưởng rằng ông giữ lập trường tán thành (tôi giả thiết là trong cuốn sách cũng thế) đối với những cuộc canh tân đang được trù liệu trong chế độ nhà nước và xã hội của Trung Quoc. Không thể không tán thành những canh tân theo nghĩa tăng trưởng, phát triển, hoàn thiện; song những canh tân bắt chước, sự du nhập y nguyên sang Trung Quoc những hình thái đã tỏ rõ, đối với những người sáng suốt, toàn bộ sự bất lực của chúng ở châu Âu và châu Mỹ, sẽ là một sai lầm lớn và đinh mệnh. Những canh tân phải nảy sinh tự nhiên từ những đặc tính của dân tộc và là hoàn toàn mới, không giống những hình thái của các dân tộc khác.

Cái óc bảo thủ của Trung Quốc, hay bị chê trách đến thế, nếu so sánh nó với những kết quả mà nhân loại Kitô giáo đã đi tới, thì hóa ra lại tốt đẹp hơn nghìn lần cái trạng thái hận thù, bực tức và đấu tranh lẫn nhau không ngớt, mà trong đó thế giới Kitô giáo đang sống. Tôi chỉ dành một ngoại lệ cho nước Nga, cho tuyệt đại đa số dân cư nông nghiệp của nó. Từ cái tuyệt đại đa số ấy tôi mong chờ những hình thái đời sống mới, cũng như từ tuyệt đại đa số dân cư làm nghề nông của Trung Quốc, cầu xin Thượng Đế giúp Trung Quốc thoát khỏi con đường của Nhật Bản. Người Trung Hoa, cũng như mọi người, cần phải phát triển những sức mạnh tinh thần của mình, chứ không phải những cải tiến công nghệ, chúng sẽ chỉ có hại khi những lực tinh thần đang suy vong.

Tôi hoàn toàn nhất trí với ông rằng có một mối quan hệ nội tại, tinh thần giữa hai dân tộc vĩ đại, Nga và Trung Hoa, và họ phải kề vai sát cánh với nhau, nhưng không phải dưới hình thức những liên minh ngoại giao và những liên kết chính phủ nói chung. Họ, đặc biệt là dân chúng làm nghề nông, phải tạo nên những hình thái đời sống xã hội mới, độc lập, đối với chính phủ, đạt tới không phải những quyền tự do khác nhau: tín ngưỡng, ngôn luận, đại diện, v.v… mà tự do chân chính, thực thụ mà cốt lõi là sống không cần đến chính phủ và không phục tùng một ai, ngoài luật đạo đức tối cao.

Tôi xin nhắc lại tội rất sung sướng được giao tiếp với ông và sẽ rất mừng, nếu ông cho là đáng bỏ công sức ra để dịch những văn phẩm của tôi ra tiếng Trung[249].

Lev Tolstoi

37. Gửi Kenjiro Tokutomi

Tiểu dẫn – Kenjiro Tokutomi (1868-1927) là nhà văn Nhật Bản nổi tiếng, rất hâm mộ thiên tài của Tolstoi, năm 1897 đã viết và in một cuốn sách giới thiệu thân thế và sự nghiệp của ông dưới tiêu đề “Người khổng lồ của văn học Nga Lev Tolstoi”.

Đầu tháng Giêng năm 1906, Tokutomi đã viết lá thư đầu tiên cho Tolstoi bày tỏ sự đồng tình với những tư tưởng đạo đức – xã hội của ông. Cũng vào mùa hè năm ấy, Tokutomi đã viếng thăm và đàm đạo với Tolstoi trong vòng 4 ngày ở Yasnaya Polyana, về cuộc viếng thăm ấy nhà văn Nhật đã viết hẳn một cuốn sách nhỏ Nẻo đường hành hương in năm 1908, trong dịp thế giới kỷ niệm 80 năm sinh Tolstoi. Thư của Tolstoi trả lời bức thư đầu tiên của Tokutomi được viết bằng tiếng Anh.

Gửi Kenjiro Tokutomi

25 tháng Tư 1906 

Tula, Yasnaya Polyana

Người bạn quý mến,

Tôi đã nhận được khá lâu thư và hai cuốn sách của ông. Sẽ là dài dòng và cũng vô ích giải thích vì sao cho đến giờ tôi chưa phúc đáp[250]. Xin ông thứ lỗi cho tôi. Hy vọng và mong rằng thư này của tôi sẽ đến với ông ở nơi cư trú cũ, trong trạng thái sức khỏe dồi dào và vẫn thiện cảm đối với tôi, như khi ông viết cho tôi.

Từ bức thư cũng như từ cuốn sách của ông, tôi vẫn chưa hiểu được rõ lắm về thế giới quan của ông, cho nên tôi sẽ rất biết ơn ông, nếu ông giải minh cho tôi về những quan điểm tôn giáo của mình. Tôi rất quan tâm đến những tín ngưỡng tôn giáo của người Nhật. Tôi có quan niệm về Thần đạo, nhưng tôi hồ nghi rằng những người Nhật hiện đại, biết suy nghĩ lại có thể tin theo tôn giáo ấy. Tôi biết về Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo và ngưỡng mô sâu sắc những cơ sở tôn giáo và siêu hình học của những giáo thuyết ấy, chúng đồng nhất với những luật cơ bản của đạo Kitô. Chỉ tồn tại một tôn giáo được khai mở từ những bình diện khác nhau cho những dân tôc khác nhau, thành thử tôi rất muốn biết cách nhìn nhận của người Nhậy đối với những luật tôn giáo cơ bản. Trong sách báo châu Âu tôi không tìm cái gì nói về vấn đề ấy. Giá mà ông có thể giúp đỡ tôi, dù chỉ bằng cách lược thuật cho tôi những quan niệm tôn giáo của mình thì tôi sẽ rất biết ơn ông.

Dưới những quan niệm tôn giáo, tôi hiểu câu trả lời cho câu hỏi cơ bản và quan trọng nhất đối với con người: là thế nào ý nghĩa cuộc sống mà con người cần phải sống.

Ông nói trong thư mình về cách mạng Nga và về những cải cách sắp phải được thực hiện ở Nhật Bản. Tôi nghĩ, chỉ có một cuộc cách mạng và một cuộc cải cách là không thể tránh khỏi trên toàn thế giới: đó không chỉ là sự giải thể tất cả các nước lớn, mà là sự giải thể mọi nhà nước nói chung, sự giải phóng loài người khỏi sự phục tùng quyền lực của con người.

Tôi đã viết về đề tài này một cuốn sách (mới nhất) mang tên Chung cục của một thời đại. Nó đã được dịch ra tiếng Anh[251] và tôi sẽ nhờ một người bạn của tôi ở Anh[252] gửi cho ông một bản, nhưng cũng có thể ông sẽ tìm được nó trong các thư viện ở nước ông. Xin ông cho tôi biết ý kiến của mình về những quan điểm được bày tỏ trong cuốn sách ấy.

Nhiệt thành cảm ơn ông về bức thư, về những cuốn sách của ông và về những tình cảm tốt đẹp của ông đối với tôi. Xin ông chuyển lời thăm hỏi tới phu nhân ông[253] và xin ông nhờ bà ấy, nếu điều này không quá táo bạo từ phía tôi, viết cho tôi, nếu có thể, đôi lời về những quan niệm tôn giáo của bà ấy: bà ấy sống vì lẽ gì, là thế nào cái luật cơ bản của cuộc đời bà ấy, cái luật mà tất cà những luật lệ và nguyện vọng của con người phải được hi sinh cho nó.

38. Gửi V.V. Stasov

Tiểu dẫn – Vladimir Vasihevich Stasov (1824-1906), nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật và âm nhạc nổi tiếng, người có vốn kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn, trong đó có Đông phương học, thuộc số những người bạn và đồng chí trung thành của Tolstoi, đã giúp đỡ ông thiết thực trong những công việc nghiên cứu của ông. Sưu tập thư từ trao đổi giữa Tolstoi và Stasov, phong phú và hấp dẫn về nội dung, cũng đã được in thành sách riêng (Leningrad, 1929).

Theo dõi sát sao thời cuộc, trong tháng Chín 1906, khi đang diễn ra cuộc cách mạng đầu tiên ở Nga, Stasov đã gửi tới Tolstoi một bức thư dài, trong đó ông có viết: …tôi có cảm tưởng rằng, cái phong trào chung, vĩ đại của chúng ta hiện nay, trực tiếp hay gián tiếp, là tác phẩm của đôi bàn tay anh. Anh không ưa, không công nhận nó, và nếu mà anh có sức mạnh và quyền lực thì có thể anh sẽ đè chết, rồi đào nhổ nó khỏi lịch sử Nga… Nhưng toàn bộ cuộc cách mạng Nga hiện nay, chẳng phải nó đã không phun trào từ cái miệng núi Vesuvius hừng hực lửa của anh?” 

Thư sau đây của Tolstoi trả lời câu hỏi ấy của Stasov.

20 tháng Chín 1906

Vladimir Vasilievich thân mến, cảm ơn anh vì bức thư hay và dài. Anh đừng ta thán tuổi già. Nó đã mang đến cho tôi biết bao điều bất ngờ và tốt đẹp. Từ đó mà tôi kết luận rằng cái chung cục của tuổi già và cuộc sống cũng sẽ tốt đẹp một cách bất ngờ. Tôi biết anh sẽ không đồng ý với ý kiến này. Nhưng tôi nói cái tôi nghĩ. Tôi cũng không đồng ý với anh về cái ý nghĩa mà anh gán cho tôi trong cuộc cách mạng của chúng ta: cả với ý là tôi có tôi gây ra nó và còn ít hơn với ý là tôi không thưa nhận nó và muốn đè chết nó. Thái độ của tôi đối với cách mạng là thế này: tôi không thể không đau khổ nhìn thấy tất cả những gì đang được làm, đặc biệt nếu giả đinh rằng trong sự nổ ra cách mạng có dù chỉ một phần nhỏ sự can hệ nơi tôi.

Thái độ của tối tựa như thái độ của một người từng khuyên những người khác chớ chui đầu vào cái vòng cổ nối với xích trói buộc họ, khi mà những con người ấy, để mà không phải đeo vòng cổ nữa, lại quyết định rằng cần phải tái chế những vòng cổ ấy thành xiềng khóa chân buộc tay để được tiện lợi hơn là đeo vòng cổ. Nhưng người đời không chỉ tự xiềng xích mình, họ còn làm nhiều điều bỉ ổi nữa và tựa như những đồng tiền kẽm, rất hài lòng với mình, tưởng rằng, bắt chước một cách nô lệ những gì đã được làm ở châu Âu bởi những con người rất không thông minh và không lương thiện, họ đang làm một công việc tối quan trọng và hữu ích. Những gì hiện nay đang diễn ra trong nhân dân (không phải trong giai cấp vô sản) là rất quan trọng và dĩ nhiên là tốt, nhưng không quan trọng và không tốt những gì mà tất cả các đảng và các ủy ban hài hước ấy đang làm.

Cái ông Herzen mà anh ái mộ đến thế, chắc sẽ đồng tình với anh. Du train que cela va[254], nếu nhân dân, cái nhân dân chân chính, một trăm triệu nông phu – mugic ấy, bằng sự thụ động cự tuyệt bạo lực không vô hiệu hóa và vô hại hóà cái đám người ô tạp tự ái quá khích, ồn ào vô trách nhiệm ấy thì chúng ta thế nào cũng đi đến ách độc tài quân sự, mà lại kinh qua những tội ác và sự hư đốn ghê gớm hiện giờ đã bắt đầu. Để thay thế một trật tự đã lỗi thời bằng một trật tự khác, cần phải đưa ra một lý tưởng cao hơn, chung và hiểu được đối với toàn dân. Mậ giới trí thức của chúng ta và giai cấp vô sản bị nó xúi bẩy thì không có một cái gí tương tự – chỉ rặt những ngôn từ, mà lại không phải của mình, mà của người khác. Thành thử tôi nghĩ thế này: tôi vui mừng trước cách mạng, nhưng phiền lòng trước những kẻ tưởng mình làm cách mạng nhưng lại giết chết nó. Tiêu diệt bạo lực của chế độ cũ chỉ có thể bằng sự không tham gia bạo lực, chứ tuyệt không bằng những bạo lực mới, vô nghĩa đang được làm [… ]

39. Gửi V.V. Stasov

Tiểu dẫn – Xin giới thiệu thêm một thư nữa của Tolstoi gửi Stasov bàn về thái độ đối xử cần có của con người đối với loài vật. Stasov trong một bức thư dài gửi Tolstoi cổ xúy cho sự triển khai đến cùng học thuyết bất bạo lực sang cả thế giới động vật: không những không ăn thịt chúng, mà còn không dùng chúng làm vật kéo chở, vật cưỡi, vật giải trí, v.v… Liên hệ với các tôn giáo của thế giới, Stasov cho rằng ngay trong những tôn giáo cao cả nhất như đạo Kitô, đạo Bàlamôn thái độ đối xử can có như thế đối với loài vật cũng chưa được thể hiện triệt để và ông gửi gắm mọi hy vọng vào nền công nghiệp tương lai. sẽ thay thế thức ăn động vật bằng thức ăn nhân tạo, lao động của gia súc bằng lao động cơ giới, v.v…

[Yasnaya Polyana, cuối tháng Tám 1893]

Tôi rất vui bắt được thư anh, Vladimir Vasilievich ạ. Tôi hoàn toàn tán thành với những điều anh nói rằng thái độ đối xử của loài người đối với loài vật là rất tàn nhẫn và không phải lẽ tí nào, và rằng đã đến hay đang đến lúc khi mà nhận thức về việc hành hạ súc vật là việc làm tàn ác, không cần thiết và ngu ngốc phải trờ thành dư luận xã hội và được văn học, nghệ thuật và toàn bộ nền giáo dục truyền thụ. Với những gì anh nói, tôi chỉ muốn có một số đính chính, bổ sung hay nhận xét sau đây: 1) Đức Kitô không bao giờ rao giảng lòng nhân từ đối với loài vật, cho nên cuộc du hành của Người trên lưng con lừa (thực ra ở đây chẳng có gì lý thú cả)[255] không mâu thuẫn với học thuyết của Người. Kitô truyền giảng tình yêu thương, trạng thái yêu thương nói chung, và từ học thuyết của Người về tình yêu, ta có thể rút ra cả tình yêu đối với loài vật, mà trong thời đại của Người chưa ai nghĩ tới; 2) các vị tăng lữ Bàlamôn vị tất cưỡi bò để đi lại, bởi vì khi đã không cho phép mình giết súc vật thì họ chắc cũng không cho phép mình làm khổ chúng.

Trong truyền thuyết Phật giáo về Thích Ca Mầu Ni, như anh biết, có chuyện kể về cuộc thi đấu mà ở đấy Thích Ca Mầu Ni kinh hoàng thấy những con vật bị hành hạ; 3) tư tưởng về việc con người không được làm khổ loài vật đã bắt đầu được truyền bá. Ở Anh có humanitarian ligue theo đuổi mục đích ấy: họ đấu tranh chống lại sự săn bắn, sự cưỡi, sự đua đấu, sự mổ sống làm thí nghiệm, sự giết hàng loạt trong các lò sát sinh và tất cả những hình thức tàn ác đối với loài vật; 4) tôi tin tưởng rằng tương lai của nghề nông ngay từ hiện giờ đã không ở sử dụng lao động của súc vật và tạo ra những giống gia súc mới để kéo hay cưỡi, mà ở sự canh tác đất bằng tay và bằng máy móc chạy bằng hơi nước và điện, sản xuất được nhiều trên diện tích nhỏ, như những vườn rau ở ngoại ô Paris hay London cho thấy; 5) và cái chính, đó là cuộc giải phóng đáng mong muốn khỏi sự lệ thuộc vào loài vật có thể đạt được bằng hai con đường, từ hai đầu: a) làm chủ được những sức mạnh của thiên nhiên thông qua hiểu biết chúng và b) hạn chế những dục vong của mình bằng điều độ, kiêng tránh và cần cù lao đọng. Bước đầu tiên đi tới sự giải phóng mình khỏi loài vật là không ăn chúng, không dùng chúng làm vật chở hoặc cưỡi, mà đi lại bằng đôi chân của mình.

Và cái đó phải bắt đầu làm từ bây giờ. Mỗi người trong chúng ta phải bắt đầu. Còn nếu ta vẫn cứ tiếp tục ăn thịt động vật và dùng chúng làm phương tiện đi lại và tận hưởng hằng ngày sản phẩm của thế giới động vật, cứ tiếp tục gia tăng những thị dục của mình (mà chúng sẽ gia tăng đến vô tận), chờ khi nào khoa học sẽ thay thế tất cả bằng những sản phẩm nhân tạo thì những thị dục của chúng ta sẽ phát triển đến mức khoa học sẽ không bao giờ đuổi kịp. Anh có đồng ý không? Tạm biệt. Rất vui được trò chuyện với anh về tất cả cái đó.

40. Gửi Paul Sabatier

Tiểu dẫn – Charles Paul Marie Sabatier, nhà văn và nhà thần học Pháp mà một số tác phẩm được Tolstoi đánh giá cao, đầu tháng Mười 1906 đã gửi tặng Tolstoi mấy cuốn sách mới của mình cùng với bức thư dài trình bày quan điểm của ông về quan hệ cần có giữa tôn giáo và nhà nước và đề nghị

Tolstoi phát biểu ý kiến về vấn đề này. Tolstoi đã bỏ ra hai tuần đề viết bức thư trả lời này, viết đi viết lại 10 lần. Thư đã được đang trên báo Pháp Siècle (Thế kỷ) vào cuối tháng 11/1906.

[Yasnaya Polyana, 7/20 tháng Mười Một 1906]

Ông Sabatier quý mến,

Tôi vừa mới nhận được thư ông, cùng với ba cuốn sách. Té ra người mà lẽ ra phải chuyển thư và sách cho ông Birukov[256] đã giữ chúng hơn một tháng, cho nên bây giờ tôi mới nhận được. Đấy là nguyên nhân vì sao thư phúc đáp của tôi chậm trễ.

Tôi đã đọc cuốn sách của ông[257] với niềm lý thú mới, cũng như cuốn sách nhỏ bằng tiếng Ý.[258]

Vấn đề được bàn thảo trong sách ấy hết sức quan trọng và, do biết ông là một người thành thật, tôi sẽ cho phép mình hoàn toàn thành thật với ông và bày tỏ cởi mở với ông tư tưởng của mình.

Tôi nghĩ rằng trong mọi việc không có gì sai lầm hơn những biện pháp nửa vời, và không thể ghếp nối chân lý và cái thiện với sự giả dối và cái ác. Mà tôn giáo – đó là chân lý và cái thiện, còn giáo hội thì sự giả dối và điều ác hại.

Giáo hội luôn luôn là một tor chức dối trá và tàn bạo, nó đã bóp méo và xuyên tạc học thuyết Kitô giáo chân chính vì những lợi lộc mà nó nhận được từ chính quyền thế tục cho những thành viên của nó. Tất cả những khế ước (concordat) đối với nó đã không phải là cái gì khác, mà chỉ là những thỏa hiệp giữa giáo hội và nhà nước mà theo chúng giáo hội hứa dành cho nhà nước sự trợ lực của mình để đổi lấy những lợi ích vật chất mà nhà nước dành cho nó.

Đối với giáo hội, đạo Kitô luôn luôn chỉ là cái cớ thuận lợi. Người ta sẽ bảo tôi rằng trong thế giới Công giáo từng có và bây giờ vẫn có những người đàn ông và đàn bà sống một cuộc sống thánh thiện, nhưng sự thánh thiện của những người ấy đã có được không phải do có những học thuyết của giáo hội, mà phần đa là bất chấp những học thuyết ấy.

Nhìn chung khi đọc cuốn sách của ông (nó được viết rất tốt và có những đoạn tuyệt hay) tôi lấy làm ngạc nhiên thấy rằng xung quanh vấn đề về tiền đồ của đạo Công giáo và tôn giáo nói chung ông dẫn rặt những suy xét của các vị giáo chủ và các tác giả thế tục, cứ như là cả Voltaire, cả Rousseau, cả Kant, cả Channing, cả Lamennais cùng nhiều bộ óc vĩ đại khác, đã từng bàn luận về vấn đề này, chưa bao giờ tồn tại.

Tất cả những gì ngày nay có thể nói về quan hệ qua lại giữa tôn giáo chân chính với đạo Công giáo, từ lâu đã được diễn đạt, mà diễn đạt một cách vắt kiệt.

Chỉ cần đọc lại Voltaire, Kant (cuốn về tôn giáo trong ranh giới lý tính thuần túy của ông ta), Channing, Lamennais, Ruskin, Emerson và những tác giả khác, để nhận ra rằng tất cả những gì hiện giờ được phát biểu về vấn đề này một cách thiếu rành mạch, thiếu chính xác và thiếu tính hệ thống đến thế, đã được nói ra từ lâu, và bằng cách khiến cho những ai giờ đây muốn đề cập vấn đề ấy, không có gì để bổ sung nữa.

“Người ta bảo tôi cần phải có thần khải, – Rousseau viết trong Tuyên tín của phó giám mục vùng Savoie[259] – để dạy cho loài người biết phụng sự Thiên Chúa như Ngài muốn; để chứng minh điều đó, người ta dẫn ra những dị biệt giữa các tôn giáo được thiết lập trên thế gian này, mà không thấy rằng những dị biệt ấy phát sinh từ chính những thần khải. Chỉ cần ở các dân tộc nảy ra ý nghĩ bắt Thượng Đế nói, thì mỗi dân tộc tức khắc bắt Ngài nói theo lối của mình, nói cái mà chính’ họ mong muốn. Giá như chúng ta chỉ nghe cái mà Thường Đế nói trong tim con người, thì trên trái đất đã chỉ có một tôn giáo mà thôi.”

Bổn phận của chúng ta và của những người cùng thời với chúng ta không phải là nói lại một cách không rõ ràng những gì đã được nói hay đến thế mấy trăm năm trước chúng ta, mà là cố gắng xác định thật chính xác những nguyên lý của một tôn giáo; chân chính sẽ phải thay thế những mê tín dị đoan đáng sợ của giáo hội mà, như người ta quả quyết, những tín hữu Kitô giáo thời nay vẫn tin.

Với tư cách một sinh linh hữu trí, con người chưa bao giờ sống mà không xác lập quan hệ tinh thần qua lại giữa sự tồn tại của mình với bản nguyên vô cùng vô tận mà chúng ta gọi là Thượng Đế. Mối quan hệ qua lại ấy không phải là cái gì khác mà chính là tôn giáo, và nó luôn luôn là sức mạnh chi phối tất cả mọi hành động hữu thức của con người, và nó luôn luôn thay hình đổi dạng thích ứng với sự phát triển của nhân loại…

Học thuyết Kitô giáo chân chính, vượt trội quá xa trình độ nhận thức của quần chúng trong thời đại khi nó mới xuất hiện, đã được tiếp thụ trong ý nghĩa chân chính của nó chỉ bởi một thiểu số rất ít ỏi.

Tuyệt đại đa số, quen với sự sùng bái quyền lực thế tục, đã không hiểu nổi học thuyết ấy trong ý nghĩa chân chính của nó và do đó đã dễ dàng tiếp thụ cái học thuyết ngụy Kitô do giáo hội hư tạo và chỉ đòi hỏi sự thờ bái Thiên Chúa bằng những hình thức bên ngoài, với những thánh nhân, tượng thánh và một phần cả những nhân vật có những năng lực siêu nhiên.

Tình hình như thế đã kéo dài nhiều thế kỷ, nhưng với sự phát triển chung của dân trí, tinh thần Kitô giáo chân chính bị che giấu dưới những lớp bao phủ của giáo hội bắt đầu ngày một hiển lộ; ngày một trở nên hiển nhiên hơn mâu thuẫn giữa học thuyết chân chính của Kitô với quyền lực của nhà nước được duy trì bằng bạo lực. Bất chấp mọi nỗ lực của nhà nước và giáo hội dung hòa hai nguyên lý – đạo Kitô chân chính (tình yêu thương, sự khiêm nhường, lòng nhân từ) và sự thống trị của nhà nước (bạo lực, sức mạnh thể chất, cưỡng bách) – mâu thuẫn ấy trong thời đại chúng ta đã trở nên lộ liễu và nóng bỏng đến mức không trì hoãn được nữa sự giải quyết nó bằng cách này hay cách khác.

Một loạt dấu hiệu chỉ ra điều đó: 1) phong trào tôn giáo đang lan rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở tất cả các nước Kitô giáo; 2) cuộc cách mạng ở Nga, và 3) sự tiến bộ quân sự và công nghiệp đáng ngạc nhiên, ngày một thấy rõ hơn trong thời gian gần đây ở Trung Quốc và đặc biệt Nhật Bản.

Phong trào tôn giáo, đang diễn ra không chỉ trong các nước Công giáo mà còn trên toàn thế giới, theo cách nhìn của tôi, không phải là cái gì khác, mà là những cơn đau đẻ, đi trước sự giải quyết song đề hoặc đạo Kitô với những yêu cầu của nó về sự tuân phục Thượng Đế, về tình yêu thương đồng loại, về sự khiêm nhường, hoặc nhà nước với những điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của nó: sự tuân lệnh chính phủ, chủ nghĩa ái quốc, luật trả thù và đặc biệt quân đội với chế độ quân dịch cưỡng bách.

Tôi có cảm tưởng rằng ở Pháp có khuynh hướng giải quyết song đề này một cách có lợi cho nhà nước và có hại cho tôn giáo, không chỉ Công giáo mà tôn giáo nói chung, nó bị số đông của các giai cấp cầm quyền coi như một tàn dư vô ích của quá khứ, có hại nhiều hơn, chứ không có lợi gì cho hạnh phúc của loài người thời nay.

Cũng song đề ấy là nguyên nhân chính của cuộc cách mạng ở Nga. Tất cả những gì được làm hiện nay bởi những người cách mạng ở Nga, chỉ là sự vô thức tìm kiếm một giải pháp có lợi cho tôn giáo, tức là sự hủy tiêu nhà nước và mọi quyền lực dựa trên bạo lực, và tổ chức xã hội trên những nguyên tắc tôn giáo và đạo đức chung cho tất cả mọi người.

Dấu hiệu thứ ba về sự cần thiết mau chóng giải quyết song đề nhà nước hay tôn giáo tôi nhìn thấy ở những thành tựu quân sự và công nghiệp phi thường mà trong thời gian gần đây các dân tộc Viễn Đông đã và đang đạt được, mà họ thì không những không vướng mắc cái mâu thuẫn nội tại của các quốc gia Ki tô giáo mà còn tin theo một tôn giáo yêu nước cao độ của sự thờ cúng tổ tiên và sùng bái quyền lực của người đứng đầu quốc gia được thần thánh hóa.

Những thành tích của các dân tộc ấy lớn đến mức nếu chúng tiếp tục được phát huy với quy mô như hiện giờ thì mấy chục năm nữa các nước châu Âu không còn áp đặt ý chí của mình cho các dân tộc phương Đông, mà chính họ sẽ trở thành những chúa tể của thế giới, còn các dân tộc Kitô giáo thì thành những chư hầu của họ. Và cũng không thể khác được, một khi tôn giáo và thế chế nhà nước của họ hoàn toàn phù hợp.

Các dân tộc Âu châu đã bắt đầu cảm thấy nguy cơ ấy[260]. Chính thái độ ứng xử đầy đe dọa ẩy của các dân tộc phương Đông là nguyên nhân thứ ba, khiến cho song đề tôn giáo hoặc nhà nước phải được giải quyết không trì hoãn.

Một trong hai cái – hoặc chối bộ triệt để hồn cốt của đạo Kitô chân chính, xóa sạch những vết tích cuối cùng của nó – tình thương yêu đồng loại, đức khiêm nhường, tình huỳnh đệ, như người Âu châu trong thực tế đang làm, và lấy cái chủ nghĩa ái quốc tàn bạo và sự phục tùng nô lệ ra làm đối trọng cho chủ nghĩa ái quốc và sự phục tùng thụ động của các dân tộc phương Đông, hoặc tiếp thụ toàn bộ những nguyên tắc Kitô giáo chân chính về tình yêu thương đồng loại, đức khiêm nhường, không chống lại cái ác và bạo lực và tin cậy không phải vào sức mạnh vật chất, mà vào ý chí của Thượng Đế, tin tưởng tuyệt đối rằng hạnh phúc cao nhất của con người và loài người chỉ có thể đạt được bằng sự tuân thủ luật vĩnh cửu được khai mở cho chúng ta trong lương tấm của chúng ta, mặc dù những con đường dẫn đến hạnh phúc ấy chúng ta không thể thấy và không thể hiểu.

Không cần phải nói với ông, cảm tình và ước vọng của tôi thuộc về bên nào.

Đấy là những ý nghĩ đã nảy ra trong tôi khi đọc cuốn sách của ông.

Xin ông, người bạn quý mến, tha thứ cho tôi lối diễn đạt thô thiển và thứ tiếng Pháp tồi tệ của tôi, và mong ông cố gắng hiểu.

Bạn của ông

Lev Tolstoi

7/20 tháng Mười Một 1906.

41 Gửi tòa soạn các báo “Tin tức Nga” và “Thời mới”

[Yasnaya Polyana, 17 Tháng Chín 1907]

Hơn 20 năm trước đây, tuân theo một số suy xét riêng, tôi đã chối từ sở hữu tài sản cá nhân. Bất động sản trước kia là của tôi đã được tôi chuyển giao cho những người thừa kế tôi, như thể tôi đã chết. Tôi cũng đã từ chối quyền sở hữu những tác phẩm của mình, và tất cả những gì tôi viết từ năm 1881 đã trở thành tài sản của xã hội.[261]

Những khoản tiền duy nhất mà tôi còn sử dụng là tiền mà tôi đôi khi nhận được, chủ yếu từ nước ngoài, để phân phát cho những người bị đói ở một số địa điểm xác định và những khoản tiền không lớn mà một số cá nhân trao cho tôi để tôi phân phối theo suy xét của mình. Những tiền ấy tôi phân phâi chủ yếu trong huyện của tôi, cho những người quả phụ, trẻ em mồ côi, người bị cháy nhà, v.v…

Trong khi đó, việc sử dụng những số tiền nhỏ ấy và những bài tường thuật nông nổi về tôi đăng trên một số báo đã và đang khiến nhiều người hiểu lầm, họ ngày càng gửi nhiều thư hơn tới tôi xin giúp tiền, với quy mô ngày một gia tăng[262]. Lý do của những thỉnh cầu ấy rất đa dạng: từ những lý do nông nổi nhất đến những lý do có căn cứ và cảm động nhất. Nhiều nhất là những thư xin giúp tiền để có điều kiện học hành đến nơi, tức là nhận được bằng tốt nghiệp; cảm động nhất là những thỉnh cầu trợ giúp những gia đình lâm vào cảnh khốn khó.

Do không có bất kỳ khả năng nào thỏa mãn những yêu cầu ấy, tôi đã thử phúc đáp bằng những thư chối từ ngắn, bày tỏ lấy làm tiếc không thể đáp ứng được yêu cầu. Nhưng đa phần lại nhận được những thư mới, bực bội và trách cứ. Tôi thử không trả lời, song tiếp tục nhận được những bức thư đầy bực tức, trách móc tôi đã không trả lời. Nhưng quan trọng không phải là những lời trách móc ấy, mà là cái tâm trạng bất bình mà những người viết phải trải nghiệm.

Vì vậy giờ đây tôi thấy đã là cần thiết đề nghị tất cả những người cần được giúp tiền gửi những lời thỉnh cầu không phải đến tôi, bởi vì tôi không có bất kỳ một tài sản nào mà có thể sử dụng cho mục đích ấy. Ít hơn bất kỳ một ai tôi có thể đáp ứng những thỉnh cầu ấy bởi vì nếu tôi quả thật đã hành xử như tôi tuyên bố, tức là đã không còn làm chủ sở hữu nữa, thì tôi không thể nào giúp tiền cho những ai cầu xin tôi; còn nếu tôi lừa dối mọi người, nói đã chối từ sở hữu mà vẫn làm chủ sở hữu, thế thì cũng ít hơn có thể hy vọng nhận được sự giúp đỡ từ một con người như thế.

Tôi rất mong cà các báo khác cũng đăng lại thư này của tôi.[263]

Lev Tolstoi

41. Gửi Henryk Sienkiewicz

Tiểu đẫn – Henryk Sienkiewicz (1846-1916), nhà văn Ba Lan nổi tiếng, giải thưởng Nobel năm 1905, vừa giữa tháng Chạp 1907, từ Paris đã viết cho Tolstoi một bức thư, đề nghị Tolstoi lên tiếng lên án chính sách xâm lược của nhà nước Đức đối với Ba Lan (nghị viện Đức đang bàn thảo dự luật về việc tước đoạt bằng bạo lực của Ba Lan một số đất ở miền Tây nước này). “Sự phản đối của chúng tôi – Sienkiewicz viết – sẽ thu lượm được sức mạnh và ý nghĩa phi thường trên toàn thế giới, nếu những nhà hoạt động lỗi lạc nhất của khoa học, văn học và nghệ thuật sẽ sẵn lòng tham gia. Điều đó sẽ dường như là một phán quyết của lương tâm xã hội loài người đối với một tội ác tày trời. Và đó cũng sẽ là lời bào chữa thuyết phục nhất hoàn toàn xứng đáng với một dân tộc bị áp bức.”

Tolstoi đánh giá cao sáng tác của Sienkiewicz, sẵn có cảm tình với nhân dân Ba Lan và kịch liệt lên án chính sách Nga hóa cưỡng bức của chính phủ Sa hoàng ở nước này, hồi đó nằm trong đế quốc Nga, ông đã trả lời lập tức Sienkiewicz và thư trả lời của ông đã được đăng trên báo Pháp “Matin” (Buổi sáng) vào đầu tháng Giêng 1908.

Yasnaya Polyana, 27 tháng Chạp 1907

Henryk Sienkiewicz đáng yêu quý,

Cách gọi lạ tai này có lý do – tôi muốn tránh cái công thức gây phản cảm, lạnh lùng đến thù địch “Thưa quý ông nhân từ” hay “Monsieur” cũng xa cách đến thế, mà bằng lá thư của mình bước vào một quan hệ gần gũi, thân ái với ông, phù hợp với tình cảm của tôi đối với ông. Từ khi tôi được đọc những trước tác của ông Gia đình Polanecki, Phi giáo điều và những tắc phẩm khác mà vì chúng, tôi chân thành tạ ơn ông. Cũng lý do ấy thôi thúc tôi viết cho ông bằng tiếng mẹ đé của mình, để được tự diễn đạt thật rõ ràng và chính xác.

Cái việc mà về nố ông viết cho tôi, tôi đã biết và nó đã gây nên trong tôi không phải nỗi ngạc nhiên, thậm chí không phái sự phẫn nộ, mà chỉ là sự xác nhận cái chân lý không thể hồ nghi đối với tôi – cho dù nó có vẻ nghịch lý đến đâu trong con mắt những người đã bị nhà nước thôi miên – đó là sự tồn tại của các chính phủ bạo hành đã trở nên lỗi thời và trong thời đại chúng ta chỉ có những người đứng ở bậc phát triển đạo đức – tinh thần thấp nhất mới có thể tham gia chính phủ, mới có thể là những hoàng đế, những quốc vương, những bộ trưởng, những tướng soái, thậm chí những nghị sĩ có thế lực. Những người ấy sở dĩ giữ những vị trí ấy là vì họ là những nhân cách đã thoái hóa, đồi bại. Những con người bận rộn với việc cướp lột nhân dân lao động dưới hình thức thuế má, tiến hành những chuẩn bị cho những cuộc giết người và thực hiện những cuộc giết người ấy, ký quyêt định tử hình, không ngớt nói dối trước mình và nhân quần – những người ấy không thể là khác được.

Trong thế giới đa thần giáo đã có thể có một quân chủ đức hạnh như Marcus Aurelius, nhưng trong thế giới Kitô giáo của chúng ta, ngay cả những kẻ cầm quyền trong các thế kỷ trước – tất cả những Louis và Napoléon của Pháp, tất cả những Ekaterina đệ Nhị và Nikolai đệ Nhất của chúng ta, tất cả những Friedrich, Henry, Elisabeth của Đức và Anh, cho dù những người tâng bốc họ có cố gắng đến đâu – trong thời đại ngày nay đã không thể gây ra cho ai một cái gì khác, ngoài sự ghê tởm. Còn những người cầm quyền thời nay, những kẻ nghĩ ra đủ kiểu bạo lực và sát nhân mới, thì tất cả đứng thấp hơn những yêu cầu đạo đức của đa số loài người đến mức thậm chí đã không thể phẫn nộ vì họ.

Họ chỉ đáng tởm và đáng thương, cần phải phẫn nộ, mà cũng không phải phẫn nộ nữa, mà đấu tranh không phải vớỉ những kẻ thiếu lương tâm con người ấy, mà với cái thiết chế lạc hậu khủng khiếp của tổ chức nhà nước bằng bạo lực, chính nó là nguồn gốc chủ yếu của mọi khổ đau của loài người. Cân phải đấu tranh không phải với những con người, mà với sự mê tín vào tính tất yếu của bạo lực nhà nước, nó tuyệt không dung hòa được với ý thức đạo đức của những con người thuộc về thế giới Kitô giáo và hơn bất cứ một cái gì khác cản trở nhân loại thời đại chúng ta thực hiện bước tiến mà nó tư lâu đã sẵn sàng làm. Và có thể đấu tranh với cái ác ấy chỉ bằng một phương sách đơn giản nhất, tự nhiên nhất và đồng thời hùng mạnh nhất mà đáng tiếc cho đến nay chưa được sử dụng – đó là đơn thuần sống không cần đến bạo lực của chính phủ và không dính vào bạo lực ấy.

Nếu đề cập đến những chi tiết của cái việc mà ông viết cho tôi: việc chính phủ Phổ[264] chuẩn bị cướp lột những điền chủ – nông gia Ba Lan, thì cả trong việc này tôi cũng thấy thương những kẻ đang tổ chức và sẽ thực hiện sự cướp lột ấy hơn là những người sẽ bị cướp lột. Những người sau ont le beau role[265]. Cả trên đất khác và trong những điều kiện khác họ vẫn sẽ là mình như xưa nay, còn đáng thương là những kẻ đi cướp lột, đáng thương những kẻ tkuộc về quốc gia ăn cướp và đồng tình với nó. Tồi nghĩ, hiện giờ đối với bất kỳ ai có lương tri nhạy cảm không thể có do dự trong lựa chọn: làm một người dân Phổ đồng tình với chính phủ của mình hay làm một người Ba Lan.

Đấy là ý kiến của tôi về những gì đang diễn ra hay đang được chuẩn bị ở Poznan, nếu không phải ý kiến về bản thân sự việc ấy, thì là những suy nghĩ mà nó gợi nên trong tôi.

Mong ông thứ lỗi, nếu thư này không đáp ứng những gì mà ông chờ đợi ở tôi. Nếu thư tôi không thích dụng cho ông, thì ông hãy vứt vào sọt, bằng không ông muốn sử dụng nó thế nào cũng được.

Trong mọi trường hợp, tôi rất vui sướng được bước vào sự giao lưu với ông.

Một người cùng hội cùng thuyền trong nghề viết văn yêu mến ông.

Lev Tolstoi

43. Gửi tòa soạn các báo

Tiểu dẫn – Từ đầu 1908 các giới xã hội Nga bắt đầu chuẩn bị kỷ niệm 80 năm ngày sinh Tolstoi được công luận quan niệm như một ngày hội lớn của văn hóa Nga và toàn thế giới. Ở Peterburg tược thành lập ủy ban sáng kiến lâm thời gồm một số nhà hoạt động xã hội và văn học nghệ thuật có tên tuổi. Hoạt động của ủy ban được soi sáng rộng rãi trên báo chí. Sau Ủy ban Petterburg, ở Moskova cũng được thành lập một ủy ban tương tự với các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Bunin, Veresaev, Briusov, Taneyev, Nemerovich – Danchenko… Được biết về những hoạt động chuẩn bị ấy, cuối tháng 2/1908 đã gửi thư cho một ủy viên Ủy ban sang kiến ở Peterburg mà ông quen thân, M.A. Stakhovich, khẩn khoản đề nghị hủy bỏ trong trứng nước mọi hình thức mừng sinh nhật của ông. Thể theo nguyện vọng của nhà văn, Ủy ban này cuối tháng Ba đã tuyên bố tự giải tán. Nhưng phong trào chuẩn bị mừng thọ Tolstoi vẫn lan rộng trong xã hội. Cuối tháng ba Tolstoi đã viết lá thư ngỏ sau đây gửi các báo. Thư đã không được đăng, nhưng đã được đọc trong cuộc họp của Ủy ban tổ chức mừng thọ Tolstoi của Moskva, sau đó do kính trọng nhà văn ủy ban này cũng chấm dứt hoạt động. Và ngày Tolstoi tròn 80 tuổi (28 tháng Tám/ 9 tháng Chín 1908) đã trôi qua mà không có một hội họp mừng nào.

Yasnaya Polyana, [25 tháng Ba 1908]

Thưa quý ông chủ bút nhân từ,

Xin gửi tới ông lá thư kèm theo đây[266]. Những thư như thế, thể hiện thái độ phủ định đối với việc kỷ niệm ngày sinh sắp tới của tôi, tôi đã nhận được mấy bức, còn bức thư này thì tôi đề nghị ông cho in, bởi vì chính tác giả của nó cũng mong muốn điều đó. Về phía mình, tôi cũng muốn lá thư này được in, bởi vì nhân đây tôi muốn được phát biểu đôi lời về sự kỷ niệm ngày sinh sắp tới của tôi.

Tôi muốn được phát biểu rằng sự kỷ niệm đang được chuẩn bị này là nỗi khổ rất lớn cho tôi. Nguyên nhân có nhiều. Một trong những nguyên nhân hàng đầu là tôi không bao giờ nhìn nhận một cách đồng cảm những cuộc tôn vinh như thế; tôi cho rằng sự thể hiện mối đồng cảm và tình yêu đối với hoạt động của con người có thể được thực hiện tuyệt không phải một cách bề ngoài, mà bằng sự hòa hợp gần gũi về tình cảm và tư tưởng với người được dành cho những tình cảm và tư tưởng ấy. Tôi nhớ lại đã xa xưa rồi, gần ba mươi năm trước đây, trong những ngày tôn vinh và khánh thành tượng kỷ niệm Puskin, Turgenev đáng yêu đã đến chơi và đề nghị tôi cùng với ông ấy đi tham dự lễ hội[267]. Cho dù thời ấy tôi có quý mến Turgenev đến đâu và cho dù tôi có quý trọng và đánh giá cao đến đâu (bây giờ vẫn thế) thiên tài của Puskin, tôi đã từ chối. Tôi biết mình làm cho Turgenev buồn phiền, nhưng đã không thể hành xử một cách khác, bởi vì ngay thời ấy tôi đã cho những sự tôn vinh như thế là một cái gì đó không tự nhiên, tôi không nói sai lầm, nhưng không phù hợp với những tâm nguyện của tôi. Giờ đây, khi cái đó đụng chạm trực tiếp đến tôi, tôi lại càng cảm thấy điều đó nhạy sắc hơn.

Nhưng đó là suy xét sau cùng. Một suy xét khác, quan trọng hơn cả, đó là trong bức thư kèm theo này cũng như trong những thư khác có chung một nội dung đã nói lên được một điều – những hoạt động kỷ niệm, tôn vinh ấy ngay trong giai đoạn trù bị đã gây nên ở nhiều người những tình cảm không tốt lành nhất đối với tôi. Những tình cảm không tốt lành ay có thể sẽ nằm im không đòi hỏi bày tỏ, nhưng chúng đã bùng phát và phát triển do những hoạt động ấy. Tôi biết, những tình cảm không tốt lành ấy tự tôi gây ra: tự tôi có lỗi trong việc ấy, có lỗi do những lời không can trọng, gay gắt mà bằng chúng tôi đã cho phép mình lên án tín ngưỡng của những người khác. Tôi chân thành hối hận về điều này và rất mừng có dịp bày tỏ sự hối hận ấy.

Nhưng cái đó không làm thay đổi bản chất vấn đề. Ở tuổi già của tôi, một chân đã đứng dưới huyệt, chỉ có một điều đáng mong muốn, đó là sống trong tình thương yêu với mọi người, trong khả năng của mình, và giã từ họ cũng với những tình cảm ấy. Còn lá thư này cùng với những thư tương tự mà tôi đang nhận được thì lại cho thấy cái điều là những chuẩn bị kỷ niệm ngày sinh của tôi đang dấy lên trong nhiều người – và hoàn toàn chính đáng – những tình cảm đối vói tôi trái ngược hoàn toàn với tình yêu thương.

Và điều này làm cho tôi rất đau khổ. Giả sử đặt lên cán cân một bên là những lời khen ngợi và đồng tình đáng mong nhất cho tôi của những người mà tôi quý trọng và một bên là lòng thù ghét có lý do của dù chỉ một người thì tôi nghĩ tôi sẽ không lưỡng lự chối từ tất cả những lời khen, chỉ cốt sao không làm gia tăng sự không yêu quý của chỉ một người ấy. Mà giờ đây thì tôi cảm thấy cái cuộc mừng thọ đang được chuẩn bị ấy đang gây nên những tình cảm không tốt lành, không yêu thương đối với tôi, mặc dù tôi là kẻ đáng bị trừng phạt, không phải ở một người, mà ở nhiều, rất nhiều người. Tôi rất khổ vì điều đó, và vì vậy, tôi cầu xin tất cả những người đôn hậu, yêu mến tôi làm tất cả những gì có thể làm để hủy bỏ mọi ý định tôn vinh tôi.

Tôi sẽ không nói về việc tôi chân thành cho là mình không xứng đáng với sự tôn vinh đang được chuẩn bị: cái đó sẽ bị xem là một sự đỏng đành giả dối nào đó. Nhưng tôi không thể không nói ra cái tôi nghĩ và tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc, nếu mọi người sẽ gác bỏ việc ấy và không làm gì hết theo hướng ấy.

44. Gửi những cá nhân và tổ chức đã chúc mừng nhân ngày tròn tám mươi tuổi

[Yasnaya Polyana, 5 tháng Mười 1908]

Mấy tháng trước, khi tôi nghe thấy về ý định của một số bạn bè tổ chức mừng ngày tròn tám mươi tuổi của tôi, tôi đã tuyên bố trên các báo[268] rằng tôi rất mong không ai làm một cái gì đó tương tự. Tôi đã hy vọng rằng tuyên bố của tôi sẽ được lưu tâm và sẽ không có một sự mừng thọ nào.

Nhưng đã xảy ra cái tôi hoàn toàn không chờ đợi, cụ thể là: từ hạ tuần tháng Tám và cho đến tận hôm nay tôi đã nhận được từ rất nhiều phía khác nhau những lời chúc mừng làm vinh dự cho tôi đến mức tôi cảm thấy cần phải bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với tất cả những cá nhân và tổ chức đã bày tỏ thái độ thiện chí và trìu mến đến thế với tôi.[269]

Xin cảm ơn tất cả các viện đại học, các viện Duma[270] của các thành phố, các hội đồng tự quản địa phương, các trường học khác nhau, các hiệp hội, tập đoàn, câu lạc bộ, tòa báo và tạp chí đã gửi tới tôi những thư chúc mừng. Xin cảm ơn tất cả những người tôi không được quen biết, có vị trí xã hội hết sức khác nhau, cho đến tận những người bị giam giữ trong các nhà tù và nơi lao động khổ sai, tất cả đều như nhau thân ái chúc mừng tôi. Xin cảm ơn những nam nữ thanh niên và thiếu nhi đã gửi tới tôi những lời chúc mừng của mình. Xin cảm ơn cả những vị thuộc hàng giáo phẩm – mặc dù rất ít, nhưng những lá chúc mừng tốt lành của họ lại càng quý giá đối với tôi. Cũng xin cảm ơn những người cùng với lời chúc mừng đã gửi tới những tặng phẩm khiến tôi rất cảm động.

Xin nồng nhiệt cảm ơn tất cả những ai đã chúc mừng tôi, và đặc biệt những người chiếm đa số trong những người ấy mà hoàn toàn bất ngờ cho tôi và là niềm vui vô cùng lớn lao của tôi, đã bày tỏ sự đồng thuận tuyệt không phải với tôi, mà với những chân lý vĩnh hằng mà tôi đã cố gắng, tùy theo sức mình diễn đạt trong những vãn phẩm của mình. Tôi đặc biệt lấy làm vui thú là trong số những người ấy nhiều hơn cả là những công nhân và nông dân.

Xin được thứ lỗi vì không có khả năng phúc đáp từng tổ chức và cá nhân riêng biệt, tôi mong thư ngỏ này của tôi sẽ được tiếp nhận như là sự thể hiện lòng biết ơn chân thành của tôi đối với tất cả những ai trong những ngày này đã biểu lộ với tôi những tình cảm tốt lành của mình, chúng đã mang đến cho tôi niềm sung sướng thật sự.[271]

Lev Tolstoi 

5 tháng Mười 1908

45. Gửi M.N. Iakovleva

Tiểu dẫn – Nữ văn sĩ thiếu nhi M.N. Iakovleva, cùng một số chí nguyện và cảnh ngộ với gia đình Tolstoi, đã hai lần đến Yasnaya Pylyana viếng thăm Tolstoi nhưng cả hai lần ông đều đi vắng. Ngày 25.8.1910 bà đã viết cho Tolstoi một lá thư dài, giãi bày tâm sự của mình và xin ông cho và một lời khuyên. Sau đây là thư trả lời của Tolstoi – thuộc số những lá thư cuối cùng của ông.

[Kochety, 29 tháng Tám  1910]

Bà Maria Nikolaievna quý mến, tôi rất tiếc đã không có mặt ở nhà hôm bà đến thăm. Có thể, tôi sẽ nói với bà bằng miệng tốt hơn những gì sẽ cố gắng viết dưới đây. Xin gửi bà lời tựa cho bộ sách nhỏ Đọc từng ngày[272]. Bộ sách nhỏ ấy thì tôi nghĩ bà có. Nếu bà đọc chăm chú những cuốn sách ấy thì bà sẽ tìm thấy cái sẽ trấn an bà. Còn tôi thì về cái vấn đề đang giày vò bà xin được nói như sau: cái đang giày vò bà, giày vò tôi đẫ lâu và cho đến nay vẫn giày vò. Cũng như bà, tôi nghĩ rằng tôi đâu khổ hơn bà vì sự xa hoa của mô trường mà trong đó tôi sống, bên cạnh sự nghèo khổ khủng khiếp của tuyệt đại đa phần dân chúng cho chúng ta ăn, cho chúng ta mặc và phục vụ chúng ta. Tôi đau khổ vì điều đó từng giờ mà không thể nào thoát khỏi, chỉ có thể tìm ra những con đường trung gian mà với chúng tôi sẽ không phá hoại tình yêu thương với những người bao quanh tôi và làm những gì có thể làm để giảm bớt sự dị biệt trong hoàn cảnh chia rẽ giới chúng ta với những người lao động.

Một sai lầm thường tình nhất mà bà cũng mắc phải, đó là nghĩ rằng một khi đã biết được con đường dẫn đến lý tưởng thì ta có thể đạt được lý tưởng. Nếu mà có thể đạt được lý tưởng, thì nó sẽ không còn là lý tưởng nữa, và nếu mà loài người đạt tới nó, thì cuộc sống sẽ kết thúc. Lý tưởng luôn luôn không thể đạt tới, nhưng từ đó không có nghĩa là phải từ bỏ nó và không đi theo nó nữa, mà chỉ có nghĩa là phải dốc hết sức mình để ngày một tiến gần hơn tới nó. Trong sự tiến lại gần ấy là cả cuộc sống với hạnh phúc của nó.

Có những người đã có thể, do không có những trở ngại gia đình như bà, cắt đứt một lần là xong mọi quan hệ với cuộc sống tội lỗi của những người giàu. Một bà già như thế, Maria Alexandrovna Shmidt, sống cách Zaseka hai dặm (tiếc là bà chưa đến thăm cụ ấy). Nhưng cũng có những người như bà với tôi, những người không biết cách hay không đủ sức làm điều đó, nhưng cái đó vẫn không cản trở họ sống cho phần hồn của mình và từng bước nhích tới thể hoàn thiện. Chỉ có điều đừng đánh át đi trong mình nỗi xấu hổ và sám hối trước tình cành của mình, mà hãy nuôi dưỡng nó trong mình, nhưng đồng thời hãy đừng quên những yêu cầu của tình yêu thương đối với những người trong gia đình, và bà sẽ đi đúng con đường dẫn đến cái phúc. Tạm biệt bà, cầu mong Thượng Đế sống trong bà giúp đỡ bà.

Yêu mến bà, Lev Tolstoi

46. Gửi S.A. Tolstaya

Tiểu dẫn – Đây là thư Tolstoi để lại cho người vợ trước khi bỏ nhà ra đi. Lá thư ngắn này được viết đi viết lại sáu lần trong đêm cuối cùng của Tolstoi ở Yasnaya Polyana.

[Yasnaya Polyana, 28 tháng Mười 1910]

Sự ra đi của anh sẽ làm em phiền lòng[273]. Anh lấy làm tiếc về điều đó nhưng mong em hiểu và tin rằng anh đã không thể hành xử một cách khác. Tình thế của anh trong nhà này đang trở nên, đã trở nên không chịu đựng được, Ngoại trừ tất cả những cái khác, anh không thể tiếp tục sống trong những điều kiện xa hoa mà anh đã sống và anh làm cái điều mà những người già ở tuổi anh thường làm: rời bỏ cuộc sống trần tục để sống trong cô đơn và tĩnh lặng những ngày cuối cùng của đời mình.

Xin em hiểu cho điều đó và đừng tìm đến chỗ anh, cả khi em biết được anh ở đâu. Sự xuất hiện của em sẽ chỉ làm xấu đi tình cảnh của em và của anh, nhưng không làm thay đổi quyết định của anh. Anh cảm ơn em vì cụộc sống trung thực 48 năm với anh và cầu xin em thạ thứ cho anh tất cả những gì mà anh đã có lỗi với em, cũng như anh toàn tâm toàn ý tha thứ cho em tất cả những gì mà em có thể có lỗi với anh. Anh khuyên em chấp nhận hoàn cảnh mới mà sự ra đi của anh sẽ đặt em vào đó và không nuôi dưỡng những tình cảm không tốt lành đối với anh. Nếu em muốn thông báo cái gì cho anh thì hãy truyền đạt cho Sasha[274], nó sẽ biết, anh đang ở đâu và chuyển tới anh những gì cần thiết; còn nói anh ở đâu thì nó không thể bởi vì anh đã bắt nó hứa không nói điều đó cho bất cứ một ai.

Lev Tolstoi.

28 tháng Mười.

[145] Ngày, tháng, năm bên trên hoặc dưới các thư của Tolstoi được dẫn theo lịch Nga cũ, chậm hơn lịch quốc tế 12 ngày.

[146] Em gái duy nhất của Tolstoi – Maria Nikolaevna Tolstaya (1830 -1912).

[147] Tolstoi gọi đùa bà cô họ của mình như thế.

[148] Trường bình dân ở làng quê “Yasnaya Polyana”, nơi Tolstoi tham gia giảng dạy vào những năm 1861 -1962.

[149] Sau cuộc cải cách nông dân năm 1861 Tolstoi được bầu làm trọng tai – trung gian, chuyên giải quyết những tranh chấp giữa địa chủ và nông dân ở quê ông.

[150] Tạp chí giáo dục Yasnaya Polyana của Tolstoi, ra từ tháng Giêng 1962.

[151] Trung gian hòa giải các cuộc tranh chấp giữa địa chủ và nông dân – xem chú thích 2.

[152] Thọc gậy vào bánh xe (tiếng Pháp).

[153] Trong thư của mình Tolstaya tỏ ra lo ngại cho sinh mệnh chính trị của Tolstoi, do khuynh hướng cấp tiến của tạp chí Yasnaya Polyma.

[154] Tolstoi gọi tên những tay trùm cảnh sát khét tiếng ở Nga trong nửa đầu thế kỉ XIX.

[155] T.A Ergolskaya, cô họ đã nuôi dưỡng Tolstoi thay mẹ mất sớm.

[156] Cuộc khám xét của cảnh sát kéo dài hai ngày, 6-7 tháng 7/1862. Mật vụ Nga nghi Tolstoi tham gia những hoạt động bí mật chống lại chính phủ.

[157] Tiếng chuông (Kolokol) – tờ báo chống chính phủ của A.I Herzen, in ở nước ngoài và phát tán bí mật ở Nga. Tolstoi trong chuyến đi châu Âu thứ hai của mình, năm 1862 có sang London và gặp gỡ, đàm đạo với Herzen.

[158] Xem chú thích số 149 cho thư số 3

[159] Nhờ những quan hệ cá nhân của Tolstoi, thư đã được giao tận tay cho Alexander II, cùng với báo cáo của trùm cảnh sát V.A Dolgorukov trình bày những nguyên do của cuộc khám xét điền trang của nhà văn, trong đó nhấn mạnh việc Tolstoi cho những sinh viên không có giấy thông hành(!) tá túc ở nhà mình.

[160] Alexander II đã không trả lời thư của Tolstoi mà chỉ lệnh cho trùm cảnh sát báo cho nhà văn rằng cuộc khám xét điền trang ông “sẽ không để lại hậu quả gì cho đích thân bá tước Tolstoi”.

[161] Sau này Tolstoi đã thay đổi ý kiến về học thuyết bi quan của Schopenhauer, nhưng vẫn luôn luôn kính trọng thiên tài này.

[162] Tolstoi đã từ bỏ ý định dịch Schopenhauer. Tác phẩm chính của triết gia này – Thế giới như là ý chí và biểu tượng, lần đầu tiên được FET dịch ra tiếng Nga và xuất bản năm 1881.

[163] Như ta biết, tên tuổi của Schopenhauer (1788-1860) chỉ trở nên nổi tiếng sau khi triết gia này qua đời. Khi Tolstoi viết lá thưu này, làn song hâm mộ Schopenhauer thực chất còn chưa lan tràn sang Nga.

[164] Vợ của Fet.

[165] Mesherski là cháu ngoại của nhà văn trứ danh N.M.Karamsin (1766-1826).

[166] Ngụ ý tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình.

[167] Apollon Grigoriev (1822-1864) – nhà phê bình văn học và nhà thơ có tài. Nhận xét này của Tolstoi là không xác đáng, không dựa trên sự nghiên cứu kỹ lưỡng toàn bộ văn nghiệp của Grigoriev vốn chỉ sang thế kỷ XX mới được đánh giá đúng đắn.

[168] Fedor Ivanovich Tiutchev (1803-1973) – đại thi hào Nga. Tolstoi suốt đời hâm mộ Tiutchev và đặt ông cao hơn cả Puskin. Trẻ Tolstoi có lúc đã dự định cầu hôn một trong những con gái của Tiutchev.

[169] Trong thư của mình Tolstaya cho biết “mặc dù không có hứng thú nào hết” nhưng bà lại quyết định trở thành người bảo trợ cho một trong những “nhà tình thương” ở Petetburg.

[170] “Bốn mươi thế kỷ đang nhìn tôi từ đỉnh những kim tự tháp này” – lời của Napoleon nói với binh sĩ trong cuộc chinh phục Ai Cập_ND.

[171] Những năm 1874 – 1875 Tolstoi lại dành nhiều công sức cho việc thiết lập hệ thống trường phổ thông trong huyện của ông, muốn lấy nó làm thí điểm cho cả nước Nga. Nhưng cũng như trước đây, hoạt động của ông đã không được các giới chính thống ủng hộ. Tolstoi lại phải rút vào sang tác – viết tiểu thuyết Anna Karenina.

[172] Trong số những danh nhân Nga được Tolstoi gọi tên có viện sĩ M.v. Ostrogradski (1801-1862) nhà toán học và cơ học nổi tiếng, và giáo chủ Moskva Filaret, tục danh V.M. Drozdov (1783-1867).

[173] Tolstoi đọc tác phẩm chính của Pascal Những tư tưởng (“Les pensées”) trong nguyên tác được in cùng với tiểu sử vắn tắt do người chị Pascal soạn thảo. Không chỉ những tư tưởng cao cả, mà cả cuộc đời của Pascal với những tìm kiếm tinh thần, với chủ nghĩa khổ hạnh, với sự đấu tranh kiên cường với bệnh tật, với ý chí luôn luôn làm những điều thiện cho nhân quần – tất cả đều thu phục Tolstoi và trở thành một gương sáng đối với ông. Nhiều tư tưởng của Pascal được Tolstoi nhiều lần viện dẫn và đưa vào những sách giáo huấn Phạm vi đọc, Cho từng ngày và Đường sống mà ông soạn vào cuối đời.

[174] “Cái chết tự nó sẽ đến / Chẳng cần lo lắng làm gì / Sống cho tốt mới là một vấn đề / Cần được giải quyết nơi đây.” – thơ của nhà thơ Pháp Pière Beranger (1780-1857). Tolstoi đã ghi bốn câu thơ này vào nhật ký của mình ngày 21.10.1858.

❁ ❁ ❁ 
Tác giả: Lev Tolstoi
Nguồn: DTV eBook.

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x