Trang chủ » Chương 11. Tiếng gọi của ngôn ngữ

Chương 11. Tiếng gọi của ngôn ngữ

by Hậu Học Văn
173 views
❁ Lời nói đầu Chương 1. Vai trò của trẻ nhỏ trong việc tái thiết Thế giới ❁ Chương 2. Giáo dục quyết định cả cuộc đời ❁ Chương 3. Những giai đoạn phát triển của trẻ ❁ Chương 4. Con đường mới ❁ Chương 5. Kì tích của tạo hóa Chương 6. Phôi thai học và hành vi ❁ Chương 7. Phôi tinh thần ❁ Chương 8. Sự độc lập của trẻ ❁ Chương 9. Khởi nguồn của Sự sống Chương 10. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Chương 11. Tiếng gọi của ngôn ngữ Chương 12. Ảnh hưởng của những trở ngại Chương 13. Tác dụng của vận động đối với sự phát triển của trẻ Chương 14. Đôi tay và trí tuệ Chương 15. Phát triển và mô phỏng Chương 16. Từ người sáng tạo đến người lao động Chương 17. Văn hóa và trí tưởng tượng Chương 18. Sự hình thành tính cách của trẻ Chương 19. Để trẻ phát triển bình thường Chương 20. Sự hình thành tính cách phụ thuộc vào bản thân trẻ Chương 21. Tâm lý chiếm hữu của trẻ và sự chuyển hóa tâm lý chiếm hữu Chương 22. Trẻ em và sự phát triển của xã hội Chương 23. Sự gắn kết của xã hội Chương 24. Sai lầm và cách sửa chữa Chương 25. Ba giai đoạn của sự phục tùng Chương 26. Giáo viên và tính kỷ luật Chương 27. Công tác chuẩn bị của giáo viên Chương 28. Trẻ em - ngọn nguồn của tình yêu thương    

Thứ đầu tiên mà trẻ phải học chính là tên gọi của sự vật. Phương thức giáo dục của tự nhiên hoàn toàn trùng khớp với dự kiến của chúng ta. Thế giới tự nhiên chính là người thầy của trẻ, dưới sự dìu dắt của tự nhiên, trẻ bắt đầu học thứ ngôn ngữ mà người lớn chúng ta cho là không có ý nghĩa gì, nhưng trẻ lại tỏ ra vô cùng hào hứng.

Trong chương này tôi xin nói về sự thần kì của cơ chế ngôn ngữ ở trẻ. Chúng ta đều biết, trung khu thần kinh mang lại cho sinh vật khả năng điều chỉnh bản thân sao cho thích ứng với thế giới bên ngoài. Một số cơ quan cảm giác khác, ví dụ như dây thần kinh và trung khu thần kinh, cơ bắp đều thể hiện vai trò quan trọng của chúng trong khả năng đó. Nhưng sự tồn tại của cơ chế ngôn ngữ cho thấy, không chỉ có những thứ mà mắt thường nhìn thấy mới đang phát huy tác dụng. Cuối thế kỉ trước, người ta cho rằng tế bào thần kinh ở vỏ não hay còn được gọi là “khu vực trung tâm” có mối liên hệ nhất định với ngôn ngữ. Có hai khu vực có mối liên hệ trong đó: Một là trung khu cảm giác, nó có liên quan đến việc tiếp thu ngôn ngữ từ thế giới bên ngoài (trung tâm tiếp thu ngữ âm), khu vực thứ hai là trung khu vận động, nó có liên quan đến việc biểu đạt ngôn ngữ và động tác phát âm.

Theo những gì mắt thường nhìn thấy thì cơ quan ngôn ngữ có tổ chức về cơ bản là tương đồng. Trung tâm tai tiếp nhận âm thanh ngôn ngữ; miệng, họng và mũi dùng để biểu đạt ngôn ngữ. Sự phát triển tâm lí và sinh lí của hai trung khu này được tiến hành riêng lẻ. Ở một mức độ nào đó, thính giác có liên quan đến sức mạnh thần kì về phương diện tâm lí. Dưới sức mạnh thần kì này, trẻ phát triển ngôn ngữ một cách vô thức. Chúng ta có thể tìm hiểu về phương diện vận động thông qua sự vận hành đầy phức tạp và cực kì chuẩn xác của các cơ quan trong cơ thể trong quá trình chúng ta nói chuyện.

Rõ ràng là sự phát triển của các cơ quan vận động khá chậm và xuất hiện muộn hơn các bộ phận khác. Có thể sẽ có người hỏi vì sao lại thế, chỉ có một khả năng, đó là việc tiếp thu ngôn ngữ của trẻ thúc đẩy sự phát triển của các cơ quan ngôn ngữ.

Cách lí luận này rất logic. Bởi vì nếu con người không phải bẩm sinh đã biết nói một ngôn ngữ nào đó (con người có thể tự thiết lập khả năng này cho mình) thì trẻ nhỏ trước hết chỉ có thể nghe những người bên cạnh mình nói chuyện, sau đó mới có thể tự nói. Vì vậy sự vận động của các cơ quan phát âm phải dựa trên nền tảng là những thông tin ngữ âm trong đại não. Sự vận động của các cơ quan phát âm được quyết định bởi những âm thanh mà trẻ nghe thấy và được lưu lại trong não. Điều này rất dễ hiểu, nhưng chúng ta cần nhớ rằng, ngôn ngữ là sản phẩm của một loại cơ chế tự nhiên chứ không phải là kết quả của suy luận logic. Đương nhiên thứ phù hợp với logic chính là tự nhiên. Khi nghiên cứu tự nhiên thì trước tiên hiện tượng tự nhiên sẽ thu hút sự chú ý của chúng ta, sau đó chúng ta lí giải nó và cuối cùng chúng ta sẽ coi những gì mình nhìn thấy chính là “logic”.

Điều này khiến chúng ta nghĩ rằng: “Phía sau mỗi sự kiện đều là sự phát huy tác dụng của một sức mạnh trí tuệ nào đó”. Biểu hiện của sức mạnh trí tuệ này trên phương diện tâm lí tỏ ra rõ hơn trên phương diện sinh lí. Ví dụ, khi nhìn thấy những bông hoa xinh đẹp, sắc màu rực rỡ, trong tâm hồn chúng ta lập tức có cảm giác vui vẻ, dễ chịu. Có một sự thật rõ ràng là những đứa trẻ vừa chào đời không biết nghe cũng không biết nói. Thế thì rốt cuộc chúng biết làm gì? Câu trả lời là không biết làm gì cả. Nhưng rồi trong tương lai chúng sẽ biết tất cả mọi điều.

Hai trung khu này ban đầu không có bất cứ tác dụng ngôn ngữ nào, không chịu bất cứ ảnh hưởng di truyền nào, cũng chẳng có mối liên hệ nào với ngôn ngữ, nhưng lại mang khả năng học hỏi một ngôn ngữ nào đó, có khả năng thực hiện động tác biểu đạt ngôn ngữ. Chúng chính là một phần trong toàn bộ cơ chế ngôn ngữ, tạo hóa đã lợi dụng chúng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.

Khi nghiên cứu sâu hơn, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, ngoài hai trung khu thần kinh nói trên, còn có một năng lực cảm giác đặc biệt khác chuẩn bị cho việc học tập ngôn ngữ đúng lúc. Hành vi phát âm của trẻ chịu ảnh hưởng của thính giác. Tất cả những điều này là sự sắp xếp hoàn hảo của tạo hóa, nhờ đó mà một đứa trẻ vừa chào đời đã bắt đầu thích ứng với xã hội và chuẩn bị học nói. Bản thân các cơ quan phát âm cũng là một phần khác hình thành nên công tác chuẩn bị phức tạp. Chú ý quan sát, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng sự kì diệu của cơ chế này không hề thua kém với sự kì diệu trên phương diện tâm lí con người. Cơ quan thính giác – tai của con người đã được hình thành từ trong điều kiện đặc biệt của tử cung người mẹ. Đôi tai tinh tế và cấu tạo phức tạp tựa như tác phẩm hoàn mĩ của một thiên tài âm nhạc.

Phần chính của tai giống như một cây đàn hạc có thể phản ứng trước các loại âm thanh. Chiếc “đàn hạc” này có 64 sợi dây đàn dài ngắn khác nhau được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Vì không gian có hạn, những sợi dây này được xếp theo hình xoáy trôn ốc. Mặc dù không gian nhỏ hẹp, nhưng tạo hóa đầy trí tuệ vẫn ban tặng cho tai khả năng cảm nhận mọi loại âm thanh. Vậy thứ gì đã khiến những sợi dây này rung động? Nếu không có rung động nào thì chúng khác gì chiếc đàn hỏng bị bỏ mặc trong im lặng. Phía trước “chiếc đàn” này có một màng cộng hưởng giống như mặt trống. Nếu như sóng âm chạm tới lớp màng cộng hưởng này thì các “sợi dây đàn” sẽ chấn động, và nhờ vậy chúng ta có thể nghe thấy âm thanh.

Đôi tai không thể phản ứng trước tất cả các âm thanh trong tự nhiên, bởi vì tai không có đủ “dây đàn”, nhưng các sợi “dây đàn” hiện nay đủ để phản ứng với các âm thanh phức tạp, ngôn ngữ có thể được chuyển tải một cách chân thực và chính xác qua đó. Trước khi con người chào đời, đôi tai đã được định hình, một đứa trẻ sinh non 7 tháng tuổi cũng có một đôi tai đã được định hình hoàn hảo và có thể sử dụng như bình thường. Vậy đôi tai chuyển tải âm thanh như thế nào? Phải chăng là chuyển âm thanh tới cơ quan đặc biệt chuyên thu nhận âm thanh thông qua các sợi dây thần kinh? Đó vẫn còn là một bí ẩn của tạo hóa.

Sau khi con người sinh ra, ngôn ngữ được hình thành như thế nào? Các chuyên gia tâm lí nghiên cứu trẻ sơ sinh cho biết, thính giác chính là cơ quan phát triển muộn nhất trong cơ thể. Phản ứng của cơ quan thính giác ở trẻ sơ sinh rất chậm chạp, cảm giác giống như bị điếc vậy. Trừ những âm thanh cực kì to, trẻ sẽ không phản ứng với bất cứ âm thanh nào khác. Tôi cho rằng điều này có một ý nghĩa sâu xa hơn. Tôi không nghi ngờ gì về vấn đề phản ứng thính giác chậm chạp của trẻ, nhưng tôi cho rằng phản ứng của trung khu ngôn ngữ của trẻ rất nhạy cảm, đặc biệt là khi chúng nghe thấy ngôn ngữ. Tôi cho rằng trung khu thần kinh này chuyên dùng để cảm nhận ngôn ngữ và từ vựng. Nói như vậy cũng có nghĩa là, cơ quan thính giác của trẻ sơ sinh chỉ phản ứng với một loại âm thanh nhất định (ngôn ngữ).

Tôi đã rút ra một kết luận là, cơ chế phức tạp bên trong con người trẻ chỉ phản ứng với ngôn ngữ nhằm chuẩn bị khả năng biểu đạt của bản thân. Nếu thính giác của trẻ không thể phân biệt các loại âm thanh thì đến lúc biết biểu đạt, trẻ sẽ phát ra đủ loại âm thanh khác nhau. Trẻ có thể bắt chước mọi loại âm thanh trong môi trường, kể cả những âm thanh không phải là tiếng nói của con người. Chính tạo hóa đã phân tách các trung khu thần kinh này, khiến trẻ chỉ mẫn cảm với ngôn ngữ, giúp tiếp thu ngôn ngữ tốt hơn. Chúng ta từng biết đến những trường hợp mà ta gọi là “người sói” quay lại với thế giới loài người. Mặc dù những đứa trẻ này lớn lên trong môi trường toàn là động vật, chim chóc, thậm chí đầy rẫy âm thanh phát ra từ cây cỏ, nước, nhưng chúng không mô phỏng những âm thanh này. Chúng cũng không nói được tiếng nói của con người. Bởi vì những đứa trẻ này chưa từng được nghe tiếng nói của con người, nên cơ chế ngôn ngữ bên trong trẻ đã không được khai phá.

Tôi nhấn mạnh điểm này là vì muốn nói với độc giả rằng, đây chính là một cơ chế được tạo ra chuyên để tiếp thu ngôn ngữ. Không phải vì sẵn có ngôn ngữ, mà chính bởi vì sở hữu cơ chế đặc biệt này nên con người mới có thể khiến ngôn ngữ trở thành tài sản của mình và có thể phân biệt ngôn ngữ. Cũng nhờ có cơ chế này nên trẻ mới có thể vận dụng ngôn ngữ một cách dễ dàng và lưu loát. Chính trong thời kì sơ sinh đầy bí ẩn, trẻ nhỏ – một thực thể được ban tặng năng lực cảm nhận âm thanh đặc biệt – lại bị đánh giá là chỉ biết ngủ suốt ngày. Nhưng dường như rất đột ngột, trẻ thức dậy, đồng thời có thể nghe được thứ âm thanh thật tuyệt vời. Tất cả thần kinh thính giác của trẻ phát huy hết tác dụng. Trẻ có thể sẽ cho rằng từ trước đến giờ, trên thế giới này không còn bất cứ âm thanh nào khác, kì thực đó là vì trẻ không phản ứng với những âm thanh khác mà thôi, trẻ chỉ nghe thấy ngôn ngữ của con người.

Nếu vẫn còn nhớ tới sức mạnh vĩ đại sáng tạo và bảo vệ sự sống, thì chúng ta sẽ hiểu vì sao ngôn ngữ có thể được lưu truyền lâu dài đến vậy, nó có thể được giữ gìn từ đời này qua đời khác. Những thứ được hình thành trong trí nhớ của trẻ sẽ được lưu giữ lâu dài.

Âm nhạc và các vũ điệu cũng vậy. Mỗi dân tộc đều có loại nhạc ưa thích riêng, họ sáng tạo âm nhạc của riêng mình giống như sáng tạo ngôn ngữ, họ sẽ cất lời ca hoặc nhảy theo điệu nhạc. Âm thanh của con người chính là âm nhạc, còn ngôn ngữ là các nốt nhạc. Dù cho bản thân các nốt nhạc không có ý nghĩa, nhưng mỗi dân tộc sẽ gán cho nó một ý nghĩa nhất định. Hàng trăm ngôn ngữ của người Ấn Độ đã phân dân tộc này thành hàng trăm nhóm người, chính âm nhạc đã gắn kết họ lại với nhau.

Hãy thử nghĩ xem, chẳng có loài vật nào biết hát và biết nhảy múa, trong khi con người ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này cũng đều có thể hát và nhảy múa. Ngôn ngữ đã in dấu trong tiềm thức chúng ta. Chúng ta không biết bên trong sinh vật đang diễn ra điều gì, nhưng những gì đang diễn ra bên ngoài có thể mang lại cho chúng ta một vài gợi ý. Thứ đầu tiên in dấu trong tiềm thức của trẻ là những âm đơn, những âm này chính là bộ phận chính của ngôn ngữ, chúng ta có thể gọi chúng là “chữ cái”, sau đó là âm tiết rồi đến từ đơn. Lần đầu tiên phát ra những âm này, có thể trẻ hoàn toàn không ý thức được chúng có ý nghĩa gì, tình trạng này thường xảy ra khi trẻ đọc cuốn sách đầu tiên. Nhưng điều kì diệu của quá trình này là ở chỗ, dường như trong mỗi đứa trẻ đã có sẵn một người thầy nghiêm khắc dạy cho trẻ những chữ cái, sau đó là âm tiết, rồi đến từ đơn. “Người thầy” này dường như luôn tìm được đúng thời điểm để truyền dạy cho trẻ. Đầu tiên trẻ sẽ học phát âm, sau đó học âm tiết, hoàn toàn tuân thủ đúng phương pháp học ngôn ngữ. Sau đó trẻ sẽ học từ đơn rồi đến ngữ pháp.

Thứ đầu tiên mà trẻ phải học là tên gọi của các sự vật. Phương thức giáo dục của tự nhiên hoàn toàn phù hợp với những gì chúng ta dự kiến. Tự nhiên chính là người thầy, dưới sự dìu dắt của tự nhiên, trẻ sẽ học thứ ngôn ngữ mà người lớn chúng ta cho là vô nghĩa, nhưng trẻ lại tỏ ra vô cùng hào hứng. Việc này cứ thế tiếp diễn cho đến khi trẻ lên 3–5 tuổi và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo. Tự nhiên sẽ lần lượt dạy cho trẻ danh từ, tính từ, liên từ, phó từ, động từ, tiền tố, hậu tố và tất cả những cách dùng từ. Quá trình này diễn ra y hệt như giáo trình ở nhà trường. Bằng những bài kiểm tra, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, trẻ đã có thể sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo. Lúc đó chúng ta mới vỡ lẽ rằng, bên trong mỗi đứa trẻ đều có một người thầy giỏi và trẻ cũng là một học sinh chăm chỉ, đã học tốt cách sử dụng ngôn ngữ. Không ai nghi ngờ những thành tích đó, khi đưa trẻ tới trường, chúng ta có thể cảm thấy tự hào vì những điều mà trẻ đã học được. Là bậc cha mẹ, nếu yêu thương những đứa trẻ của mình, các bạn nên tỏ ra vui mừng vì những thành tích của trẻ chứ không nên chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của con.

Mỗi nhà giáo dục đều nên nhìn nhận trẻ là một tạo vật đầy bí ẩn. Chỉ vẻn vẹn hai năm mà trẻ có thể học được rất nhiều thứ. Trong hai năm này, tiềm thức của trẻ được đánh thức và dường như chỉ sau một đêm, tất cả bỗng đột nhiên bùng nổ. Từ lúc 4 tháng tuổi (có người cho là sớm hơn nhưng tôi thiên về mốc 4 tháng tuổi), trẻ đã bắt đầu chú ý tới những âm thanh phát ra từ miệng của người khác, trẻ phát hiện ra rằng miệng và cử động của môi sẽ tạo ra ngôn ngữ. Rất ít người chú ý tới việc trẻ bị thu hút bởi cử động của môi trong khi nói chuyện, trẻ sẽ quan sát thật kĩ để rồi bắt đầu bắt chước theo.

Sau đó, những hành vi có ý thức bắt đầu phát huy tác dụng. Tất nhiên những động tác này được chuẩn bị trong trạng thái có ý thức. Lúc này những cơ quan dùng trong hoạt động nói vẫn chưa thể phối hợp làm việc một cách chuẩn xác, nhưng một số cảm hứng có ý thức của trẻ đã được khơi gợi. Điều này giúp trẻ nâng cao khả năng chú ý, đồng thời thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ tiến thêm một bước.

Sau 2 tháng quan sát tỉ mỉ, trẻ bắt đầu có thể phát ra những âm tiết đầu tiên. Khi được 6 tháng tuổi, vào một ngày nào đó, khi vừa tỉnh giấc, chúng ta chợt nghe thấy tiếng trẻ nói “ba, ma” – dường như trẻ đang muốn gọi “bố, mẹ”. Suốt một thời gian sau đó, trẻ chỉ có thể nói được hai từ này. Nhưng chúng ta hãy nhớ, sau một thời gian dài nỗ lực, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đã đến điểm giới hạn, lúc này trẻ sẽ bước ra khỏi thời kì học hỏi một cách vô thức. “Người lớn thu nhỏ” này đã không còn giống như một cái máy mà đã có khả năng điều khiển ngôn ngữ theo ý mình.

Năm đầu đời của trẻ kết thúc như vậy, nhưng trước đó, vào thời điểm trẻ 10 tháng tuổi, trẻ đã có một phát hiện khác, đó chính là những gì trẻ nghe được đều mang một ý nghĩa nào đó. Khi chúng ta âu yếm trò chuyện với trẻ, trẻ biết rằng những lời đó có ý nghĩa, đồng thời cố gắng lí giải ý nghĩa của những câu nói này. Vì vậy trong năm đầu đời của trẻ xảy ra hai sự kiện: Trẻ học ngôn ngữ một cách vô thức, đồng thời dần dần đạt tới trạng thái có ý thức; ngoài ra trẻ còn bắt đầu xây dựng ngôn ngữ cho mình, dù rằng thời điểm này ngôn ngữ của trẻ chỉ đơn giản là những tiếng bập bẹ lặp đi lặp lại.

Năm 1 tuổi, trẻ bắt đầu nói một cách có ý thức. Dù vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng bập bẹ, nhưng những gì trẻ nói ra đã bắt đầu có tính mục đích. Điều này chứng tỏ rằng trí não trẻ bắt đầu bước vào trạng thái có ý thức. Vậy rốt cuộc điều gì đang diễn ra trong con người trẻ? Bằng sự quan sát tỉ mỉ, chúng ta sẽ biết rằng, những gì diễn ra bên trong trẻ nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy ở bề ngoài.

Trẻ bắt đầu ý thức được rằng ngôn ngữ và những sự vật xung quanh mình có mối liên hệ với nhau. Ham muốn nắm bắt được ngôn ngữ có ý thức của trẻ ngày càng mãnh liệt. Vì vậy bên trong con người trẻ xảy ra lần xung đột đầu tiên. Tôi xin lí giải điều này bằng những trải nghiệm của bản thân mình. Ví dụ, tôi có một vài quan điểm muốn biểu đạt, nhưng tôi phải dùng ngoại ngữ để khiến những thính giả nước ngoài của mình có thể hiểu được, tuy nhiên thứ ngôn ngữ vụng về của tôi không có ý nghĩa gì với họ. Tôi biết những khán giả của tôi là những người đầy trí tuệ, mục đích của tôi là có thể giao tiếp với họ, nhưng vì thiếu đi phương thức biểu đạt lưu loát, tôi không thể nào đạt được mục đích đó.

Có nhiều khi chúng ta có rất nhiều điều muốn thổ lộ cùng người khác, nhưng vì vốn từ ngữ nghèo nàn nên chúng ta đã không đạt được mục đích, điều này thể hiện rất rõ ở trẻ nhỏ. Trẻ cảm thấy rất thất vọng trước tình cảnh bất lực đó. Và vì thế trẻ bắt đầu cố gắng học tập ngôn ngữ trong vô thức, kết quả là chúng đã thu được những thành tựu khiến người lớn chúng ta phải kinh ngạc.

Chúng ta có thể tìm trong trường học một người có tri thức nói chuyện kiểu người lớn với một đứa trẻ 1 tuổi, nhưng chúng ta vẫn chưa thể nhận thức đầy đủ những khó khăn mà đứa trẻ 1–2 tuổi gặp phải, chúng ta cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tạo cơ hội học ngôn ngữ một cách chính quy cho trẻ. Cần biết rằng, trẻ tự học những kiến thức ngôn ngữ, nhưng điều đó không có nghĩa là trong khi nói chuyện với trẻ, chúng ta không cần phải tuân thủ các quy tắc ngữ pháp, điều chúng ta cần làm là giúp trẻ học được ngôn ngữ một cách chính xác.

Trong giai đoạn trẻ từ 1–2 tuổi, “những người giúp đỡ trẻ trong gia đình”(1) cần có kiến thức khoa học về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Chúng ta cần đóng vai người hợp tác và người phục vụ quy luật tự nhiên ở trẻ, mang lại cho trẻ sự trợ giúp cần thiết. Khi đó chúng ta sẽ thấy, toàn bộ quá trình học tập ở trẻ có quy luật riêng của nó.

Bây giờ chúng ta hãy cùng quay lại câu chuyện tôi đang nói tới ở trên, nếu những gì tôi nói mà người khác hoàn toàn không thể hiểu được, thì tôi sẽ cảm thấy thế nào? Có thể là tức giận phát điên. Những đứa trẻ 1–2 tuổi cũng có thể sẽ gặp phải tình trạng như vậy. Nếu trẻ chỉ dùng một vài từ đơn hòng kể lại cho chúng ta nghe một sự việc nào đó, chúng ta không hiểu, trẻ có thể cũng sẽ phát cáu. Những lúc như vậy, chúng ta thường nói: “Vậy đấy, con người sinh ra đã thích cáu giận.” Những đứa trẻ mà ta chưa thể hiểu được đang cố gắng làm cho chúng ta hiểu. Nếu không thể nói được, trẻ chỉ có thể bộc lộ bằng sự phẫn nộ. Nhưng trẻ nhỏ vốn có khả năng tự thiết lập ngôn ngữ, trẻ cáu giận là vì trẻ tạm thời chưa thể đạt được mục đích này bằng nỗ lực của bản thân. Không ai có thể ngăn cản trẻ đạt được những bước tiến lớn, và trẻ sẽ dần dần học được cách sử dụng ngôn ngữ.

Khoảng 1 tuổi rưỡi, trẻ sẽ phát hiện thêm một điều mới, đó là mỗi sự vật, sự việc đều có tên gọi riêng, cũng có nghĩa là trẻ có thể tìm ra danh từ giữa những từ đơn mà mình học được, đặc biệt là một số danh từ cụ thể. Vậy là trẻ lại đạt được thêm một bước tiến lớn nữa. Trẻ đã biết rằng mỗi sự vật đều được biểu đạt bởi một từ nhất định. Tất nhiên chúng ta không thể dùng danh từ để biểu đạt tất cả mọi thứ. Đầu tiên trẻ dùng danh từ để thể hiện suy nghĩ của mình. Các chuyên gia tâm lí rất quan tâm đến việc sử dụng danh từ này của trẻ. Họ gọi đó là “câu một từ”. Trẻ thường dùng từ “mupper” để biểu thị cả câu: “Mẹ (Mummie), con muốn ăn tối (supper).”

Đặc trưng tiêu biểu của những câu rút ngắn này là bản thân từ đơn đã bị thay đổi hình thái. Trẻ thường nói một số từ tượng thanh ngắn gọn như những từ mô phỏng tiếng chó sủa… mà chúng ta gọi là “ngôn ngữ trẻ em”. Nhưng những hiểu biết của chúng ta về “ngôn ngữ trẻ em” vẫn còn rất hạn hẹp và đòi hỏi có những nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa.

Ngôn ngữ không phải là thứ duy nhất được hình thành trong giai đoạn 1 tuổi này, mà ngoài ra còn có tính trật tự. Tính trật tự không phải là thứ mang tính chất tạm thời, mà nó phù hợp với nhu cầu của trẻ. Trong khi trải nghiệm thời kì hình thành tâm lí, mỗi đứa trẻ đều muốn sắp xếp lại những thứ hỗn độn trong tâm trí mình một cách có trật tự hơn.

Trẻ sẽ cảm thấy rất khó chịu khi bất lực, việc chúng ta có thể hiểu được lời nói của trẻ sẽ có tác dụng hỗ trợ rất lớn trong việc hóa giải cảm giác khó chịu này.

Mặc dù những sự việc như vậy xảy ra hàng ngày, nhưng tôi vẫn đưa ra ví dụ như đã từng đưa ra ở trên, bởi ví dụ này có thể chứng minh cho trình trạng này.

Có một em bé người Tây Ban Nha thường nói từ “abrigo” (áo khoác) thành “go”, “espalda” (vai) thành “palda”. Vì những xung đột trong tâm lí mà bé đã nói ra hai từ “go” và “palda” đó, sự thật này khiến trẻ thường hay la hét. Mỗi khi mẹ của bé cởi áo khoác và vắt lên cánh tay, bé thường bắt đầu gào khóc không ngừng. Khi tôi đề nghị mẹ của bé mặc lại chiếc áo, bé liền lập tức nín khóc và vui vẻ nói: “go palda”, dường như muốn biểu đạt ý nghĩ rằng: Tốt rồi, áo khoác phải khoác trên vai mới phải”. Ví dụ này cho ta thấy trẻ khao khát mọi việc có trật tự và căm ghét sự hỗn loạn. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa, chúng ta nên xây dựng cho trẻ từ 1–1,5 tuổi một trường học đặc biệt. Tôi cho rằng, người mẹ nói riêng và cả xã hội nói chung không nên cách li trẻ. Hãy cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với người lớn, đồng thời thường xuyên được nghe những câu chuyện có nội dung và cách phát âm chuẩn mực.

❁ ❁ ❁

Ảnh: Viktor Jakovlev on Unsplash

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x