Trang chủ » Chương 13. Tác dụng của vận động đối với sự phát triển của trẻ

Chương 13. Tác dụng của vận động đối với sự phát triển của trẻ

by Hậu Học Văn
213 views
❁ Lời nói đầu Chương 1. Vai trò của trẻ nhỏ trong việc tái thiết Thế giới ❁ Chương 2. Giáo dục quyết định cả cuộc đời ❁ Chương 3. Những giai đoạn phát triển của trẻ ❁ Chương 4. Con đường mới ❁ Chương 5. Kì tích của tạo hóa Chương 6. Phôi thai học và hành vi ❁ Chương 7. Phôi tinh thần ❁ Chương 8. Sự độc lập của trẻ ❁ Chương 9. Khởi nguồn của Sự sống Chương 10. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Chương 11. Tiếng gọi của ngôn ngữ Chương 12. Ảnh hưởng của những trở ngại Chương 13. Tác dụng của vận động đối với sự phát triển của trẻ Chương 14. Đôi tay và trí tuệ Chương 15. Phát triển và mô phỏng Chương 16. Từ người sáng tạo đến người lao động Chương 17. Văn hóa và trí tưởng tượng Chương 18. Sự hình thành tính cách của trẻ Chương 19. Để trẻ phát triển bình thường Chương 20. Sự hình thành tính cách phụ thuộc vào bản thân trẻ Chương 21. Tâm lý chiếm hữu của trẻ và sự chuyển hóa tâm lý chiếm hữu Chương 22. Trẻ em và sự phát triển của xã hội Chương 23. Sự gắn kết của xã hội Chương 24. Sai lầm và cách sửa chữa Chương 25. Ba giai đoạn của sự phục tùng Chương 26. Giáo viên và tính kỷ luật Chương 27. Công tác chuẩn bị của giáo viên Chương 28. Trẻ em - ngọn nguồn của tình yêu thương    

Mọi sự vận động đều có một cơ chế vô cùng tinh tế, kì diệu. Đối với con người, tất cả những sự vận động đều không phải là vừa ra đời đã sẵn có mà được hình thành và hoàn thiện thông qua đủ loại hoạt động trong đời sống của trẻ.

Bây giờ là lúc chúng ta xem xét lại lí luận giáo dục liên quan đến sự vận động. Chúng ta đặc biệt nhầm lẫn về tác dụng của vận động trong thời kì trẻ thơ, một loạt quan điểm sai lầm khiến chúng ta coi nhẹ tác dụng thực sự của vận động. Trong nhà trường, chúng ta chú trọng đến giáo dục trí lực mà lại coi thường tác dụng của vận động. Chúng ta chỉ coi trọng những tên gọi như “luyện tập”, “giáo dục thể chất” hoặc “trò chơi” mà lại không để tâm đến mối liên hệ mật thiết giữa vận động và sự phát triển tâm lí.

Hãy thử nghĩ về hệ thống thần kinh đặc biệt phức tạp của con người. Đầu tiên chúng ta có đại não (trung tâm). Sau đó chúng ta có các loại cơ quan khác nhau, thu thập thông tin cảm giác và truyền những thông tin này về đại não. Sau đó chúng ta có cơ bắp.

Vì vậy, kết cấu cơ thể con người gồm có ba phần chủ yếu: Bộ não, cơ quan cảm giác và cơ bắp. Vận động là biểu hiện ngoài cùng của công việc của tổ chức tinh vi này. Trên thực tế, chỉ bằng cách thông qua sự vận động cơ thể thì con người mới có thể thể hiện được suy nghĩ của mình. Ngay cả những triết gia vĩ đại nhất cũng phải thể hiện tư tưởng của mình bằng cách nói hoặc viết, mà những điều này đều liên quan đến sự vận động của cơ bắp. Nếu không thể biểu đạt ra ngoài thì tư tưởng của triết gia còn có giá trị gì? Con đường bộc lộ tư tưởng của những triết gia này chỉ có một mà thôi, đó chính là sử dụng cơ bắp.

Nếu quan sát động vật, chúng ta sẽ kinh ngạc phát hiện ra rằng, chúng chỉ có thể thể hiện được bản thân thông qua vận động. Việc con người coi nhẹ vận động dường như không phù hợp với logic.

Các nhà tâm lí học cho rằng, cơ bắp là một phần trong hệ thống thần kinh trung ương, chỉ có sự phối hợp nhịp nhàng của bộ phận này mới có thể khiến con người xây dựng mối liên hệ với môi trường sống xung quanh. Trên thực tế, đại não, cơ quan cảm giác và cơ bắp thường được con người gọi là “hệ thống giao tiếp”, cũng có nghĩa là chúng phụ trách nhiệm vụ tiếp xúc với những sinh vật, thế giới phi sinh vật hoặc những con người khác. Không có sự trợ giúp của những cơ quan này, con người sẽ không thể tiếp xúc với môi trường xung quanh và đồng loại của mình.

So với những bộ phận này thì những bộ phận khác trong cơ thể người có phần ích kỉ, bởi vì chúng chỉ phục vụ bản thân con người. Những bộ phận này có thể bảo vệ sự sinh tồn, hay nói cách khác là sự “trưởng thành” của con người. Vì vậy, những bộ phận này được gọi là “hệ thống và cơ quan sinh trưởng”. Hệ thống sinh trưởng chỉ giúp con người lớn lên và tồn tại, còn chỉ có hệ thống giao tiếp thì mới duy trì được mối liên hệ giữa cơ thể con người với thế giới bên ngoài.

Hệ thống sinh trưởng thúc đẩy sự sinh trưởng của con người, phục vụ sự khỏe mạnh của cơ thể, nhưng hệ thống thần kinh thì khác. Không có hệ thần kinh, chúng ta sẽ không thể nhìn thấy sự tươi đẹp của thế giới xung quanh, không thể hoàn thiện tư tưởng của bản thân, nó chính là cội nguồn của tất cả những cảm hứng của chúng ta. Vì vậy chúng ta không nên hạ thấp hệ thống thần kinh xuống tầm sinh trưởng. Nếu tiêu chuẩn của chúng ta chỉ liên quan đến việc hoàn thiện và nâng cao tinh thần của bản thân thì chúng ta sẽ rơi vào vòng xoáy của sự tự mãn. Đây có thể là sai lầm lớn nhất mà con người từng phạm phải. Hành vi của động vật không chỉ khiến chúng có được cơ thể đẹp đẽ và động tác uyển chuyển mà còn có thể mang những mục đích sâu xa hơn.

Tương tự như vậy, sự sống của con người cũng có tính mục đích, chỉ đạt tới cảnh giới tinh thần cao hơn và nội tâm hoàn mĩ là chưa đủ. Xét từ góc độ tự nhiên, con người có thể hoặc nên theo đuổi cảnh giới cao hơn về sinh lí và tâm lí, nhưng nếu coi đó là mục đích cuối cùng thì sự sống là vô ích và chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nếu vậy thì sự tồn tại của bộ não và cơ bắp còn có tác dụng gì? Tất cả mọi thứ trên thế giới đều là một phần của vũ trụ, đồng thời phục vụ cho sự xoay chuyển hữu hiệu của vũ trụ. Nếu chúng ta có tinh thần phong phú, tình cảm hoàn mĩ, đạo đức tốt đẹp thì những điều này không chỉ làm thỏa mãn bản thân chúng ta mà còn có địa vị hàng đầu trong thế giới tinh thần của cả vũ trụ này.

Sức mạnh tinh thần là một loại tài sản. Chúng ta phải làm thế nào để tài sản này phát huy tác dụng của nó, khiến những người khác cũng cảm nhận được sức mạnh này. Sức mạnh tinh thần phải thông qua biểu đạt và sử dụng để hoàn thành vòng tuần hoàn giữa con người với nhau. Nếu tinh thần của con người chỉ nhằm phục vụ bản thân thì sẽ không có bất cứ giá trị gì. Nếu chúng ta chỉ coi trọng bản thân thì chúng ta đã coi nhẹ ý nghĩa lớn lao và mục đích của đời người. Nếu tin rằng có thế giới bên kia, chúng ta có thể sẽ tự nhủ: “Bây giờ phải sống cho tốt để kiếp sau còn sống tốt hơn”, đây là một suy nghĩ ích kỉ. Khi nghĩ như vậy, chúng ta đã hạ thấp tinh thần xuống tầm sinh trưởng. Tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta khá nhiều năng lực, những năng lực này cần được phát triển và sử dụng.

Sự so sánh dưới đây có lẽ sẽ khiến chúng ta hiểu hơn. Chúng ta biết rằng, để duy trì cơ thể khỏe mạnh thì các cơ quan như tim, phổi, dạ dày phải hoạt động bình thường. Chúng ta cũng có thể áp dụng nguyên lí này vào hệ thống giao tiếp – hệ thống trung khu thần kinh. Bộ não, cơ quan cảm giác và cơ bắp phải phối hợp nhịp nhàng với nhau, hay nói cách khác, trạng thái tinh thần lành mạnh chỉ có được thông qua vận động. Xuất phát từ điểm này, chúng ta cần suy ngẫm về vấn đề vận động. Sự vận động phụ thuộc vào hệ thống trung khu thần kinh. Hệ thống giao tiếp được tạo thành bởi ba phần, nhưng là một chỉnh thể thống nhất. Là một chỉnh thể, nó chỉ có thể hoàn thành một công việc chung.

Sai lầm lớn nhất mà hiện tại chúng ta phạm phải chính là tách biệt sự vận động khỏi những chức năng khác. Chúng ta chỉ coi cơ bắp là một bộ phận đem lại sức khỏe cho con người. Chúng ta tập thể thao chỉ nhằm duy trì cơ thể khỏe mạnh, cải thiện việc hô hấp, ăn uống và giấc ngủ. Giáo dục nhà trường cũng đồng tình với quan điểm này. Xét từ góc độ tâm lí học, đây là một sai lầm khủng khiếp, giống như việc một hoàng tử cao quý phải đi chăn dê vậy. Hệ thống cơ bắp – hoàng tử của chúng ta sao lại có thể đi “chăn dê” chứ?

Sai lầm này có thể dẫn đến những mối nguy hại to lớn, dẫn đến sự tách rời giữa vận động và tư tưởng. Trong quá trình thiết kế giáo trình, chúng ta không chỉ cần xem xét bộ não của trẻ mà còn cần quan tâm đến thân thể trẻ. Chúng ta không nên coi nhẹ bất cứ món quà nào của tạo hóa. Xem xét thân thể và tư tưởng một cách riêng biệt sẽ phá vỡ tính liên tục mà tạo hóa đã ban cho chúng ta. Nhưng mục đích thực sự của vận động không chỉ là duy trì cơ thể khỏe mạnh, vận động còn phục vụ cả giới tự nhiên nữa.

Hình 8 – Sự phát triển ngôn ngữ từ giai đoạn tinh vân tới giai đoạn biểu đạt có ý thức phù hợp hình thái ngữ pháp

Muốn phát huy tác dụng thì vận động phải kết hợp với bộ não. Đây không chỉ là vấn đề sự tồn tại đồng thời của vận động và bộ não mà còn là thông qua vận động để thể hiện một hình thức sống cao hơn. Giả thiết rằng thân thể con người chỉ là một mớ cơ bắp, không có đại não, vậy thì sự phát triển sẽ chỉ duy trì ở tầng sinh trưởng, còn cơ bắp và bộ não sẽ không phát triển đồng bộ. Tư tưởng không thông qua cơ bắp thì sẽ không thể được biểu đạt chính xác. Nếu như vậy, con người sẽ không thể có được sự độc lập, những thứ mà trí tuệ của tự nhiên đã ban tặng cho chúng ta cũng không được sử dụng đầy đủ.

Khi nói về sự phát triển tâm lí, nhiều người có thể sẽ hỏi: “Vận động có tác dụng gì trong quá trình phát triển tâm lí? Chúng ta đang nói về vấn đề tâm lí cơ mà!” Chúng ta thường cho rằng, hoạt động trí lực thì sẽ ngồi bất động. Nhưng sự phát triển tâm lí phải gắn liền với sự vận động, phụ thuộc vào vận động. Việc lí luận giáo dục và thực tiễn xem xét vấn đề này là vô cùng cần thiết.

Cho đến hiện tại, dường như tất cả các nhà công tác giáo dục đều kiên trì nhận định rằng, vận động và hệ thống cơ bắp chỉ giúp ích cho việc hô hấp, hệ thống tuần hoàn và sự cường tráng của cơ thể. Nhưng quan điểm mới cho rằng, vận động vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tâm lí. Sự phát triển tâm lí và tinh thần không thể tách rời khỏi vận động, nếu không có vận động thì tâm lí sẽ không thể có được sự khỏe mạnh và phát triển.

Chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều minh chứng cho việc này trong giới tự nhiên. Nếu chịu khó quan sát kĩ sự phát triển của trẻ, bạn sẽ càng thấy rõ điều đó hơn nữa. Qua quan sát, chúng tôi thấy rằng đại não của trẻ phát triển thông qua vận động.

Chúng ta hãy thử lấy ví dụ là sự phát triển ngôn ngữ, cùng với sự trưởng thành của cơ quan phát âm, khả năng ngôn ngữ không ngừng nâng cao. Bằng việc quan sát trẻ, chúng tôi còn phát hiện, trẻ nâng cao khả năng lí giải thông qua vận động. Vận động giúp bộ não phát triển, bộ não sau khi phát triển lại phát huy tác dụng hỗ trợ vận động. Đây là một quá trình tuần hoàn, bởi vì bộ não và vận động là hai phần của cùng một cá thể. Đương nhiên mỗi cơ quan có tác dụng riêng của nó, những đứa trẻ mà các cơ quan cảm giác ít có cơ hội hoạt động thì sẽ có trình độ phát triển tâm lí rất thấp.

Những cơ bắp mà bộ não kiểm soát ngày nay được gọi là cơ chủ động, cũng có nghĩa là nó chịu sự kiểm soát của ý chí, mà ý chí lại là hình thái biểu hiện cao nhất của hoạt động của bộ não. Nếu không có ý chí, sẽ không bao giờ có thể nói tới năng lực tâm lí. Vì vậy nếu cơ chủ động do ý chí kiểm soát thì những cơ này nhất định sẽ hình thành một cơ quan tâm lí.

Phần lớn cơ thể do cơ bắp tạo thành, xương chỉ có tác dụng nâng đỡ cơ bắp. Vì lí do này, chúng cũng buộc phải hình thành một hệ thống tương tự. Vẻ bề ngoài của con người và động vật mà mắt thường có thể nhìn thấy đều là xương và cơ bắp. Cơ chủ động là thứ chúng ta nhìn thấy nhiều nhất. Số lượng cơ chủ động rất lớn, nghiên cứu sự khác biệt giữa các cơ này cũng là một việc rất thú vị. Những cơ chủ động này to có, nhỏ có, ngắn có, dài có, chúng có những tác dụng khác nhau. Nếu một cơ bắp kéo về hướng này, tất sẽ có một cơ khác kéo theo hướng ngược lại. Hai lực tương phản này càng mạnh mẽ thì sự vận động càng tinh tế. Nếu chúng ta lặp lại một loại vận động hoặc tạo ra một phương thức vận động mới, hai cơ bắp mang lực tương phản sẽ càng hài hòa hơn. Đây không phải là sự hài hòa giản đơn mà là sự hài hòa trong mâu thuẫn.

Chúng ta vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết về loại lực tương phản này, nhưng mỗi sự vận động có ý thức của chúng ta đều chịu sự kiểm soát của nó. Đối với động vật thì sự hài hòa nội tại này là món quà của tự nhiên. Dáng điệu oai hùng của hổ, sự nhanh nhẹn của sóc đều được tạo nên bởi lực tương phản. Chúng ta thường thán phục nhiều loại máy móc vì sự tinh vi của chúng, ví dụ như đồng hồ, mà đồng hồ cũng do hai bánh răng mang lực tương phản kiểm soát.

Mọi sự vận động đều có một cơ chế vô cùng tinh tế, kì diệu. Đối với con người mà nói, tất cả những sự vận động đều không phải là vừa ra đời đã sẵn có mà hình thành và hoàn thiện thông qua đủ loại hoạt động trong đời sống của trẻ. Không giống như động vật, con người có hệ cơ bắp vô cùng phong phú, dường như có thể học tập động tác của bất cứ chủng loài nào. Đương nhiên ở đây không nói đến sự khỏe mạnh của cơ bắp mà muốn nói đến việc tăng cường khả năng phối hợp hài hòa giữa các cơ, hai điều này hoàn toàn khác nhau.

Vấn đề là ban đầu cơ bắp của con người không thể vận động nhịp nhàng, chỉ có thông qua bộ não, con người mới có thể hoàn thiện sự vận động của mình. Hay nói cách khác, con người có sức mạnh nội tại để đạt tới sự hài hòa, một khi sức mạnh này xuất hiện, con người sẽ thông qua việc luyện tập không ngừng để hoàn thiện bản thân. Rất hiển nhiên, bản thân con người là nhân tố chính hoàn thành quá trình này.

Điều kì diệu là tuy con người không có phương thức vận động cố định như các loài động vật nhưng lại có thể quyết định và lựa chọn sẽ học loại vận động nào. Khá nhiều động vật sẵn có khả năng trèo, chạy, bơi, nhưng bản thân con người không có sẵn những khả năng này. Ngược lại, con người chỉ có một khả năng, đó chính là có thể học tập những khả năng nói trên, đồng thời còn làm tốt hơn các loài động vật khác.

Nhưng việc những tiềm năng này có phát huy được hay không phụ thuộc vào sự nỗ lực không ngừng. Con người phải trải qua sự luyện tập lặp đi lặp lại thì mới có thể thực hiện tốt những động tác trên. Trong quá trình này, các cơ bắp sẽ phối hợp với nhau, bởi vì giữa các dây thần kinh có thể tự nhiên đạt tới trạng thái hài hòa nhất, đồng thời chịu sự kiểm soát của ý chí.

Trong đời sống hiện thực, chẳng có ai có thể phát huy hết được những khả năng của cơ bắp mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Giống như một người vừa ra đời đã sở hữu khối tài sản lớn, anh ta không thể nào dùng hết toàn bộ số tài sản này, nhưng anh ta có thể lựa chọn căn cứ vào sở thích của bản thân. Một người có thể trở thành vận động viên chuyên nghiệp nhưng điều đó không có nghĩa là vừa ra đời anh ta đã có cơ bắp của một vận động viên. Diễn viên múa cũng không được trời ban cho sẵn khả năng múa. Vận động viên và diễn viên múa đã thông qua ý chí để phát triển bản thân. Cơ bắp của mỗi người có thể làm đủ thứ hoạt động, và người đó có thể lựa chọn những hoạt động đó, bộ não sẽ chỉ đạo việc này. Đối với con người, không có gì vừa sinh ra đã làm được ngay, nhưng trong tương lai thì có thể làm bất cứ việc gì, điều này phụ thuộc vào ý nguyện của mỗi cá nhân.

Con người khác với động vật, không phải tất cả mọi người đều cùng chọn hướng phát triển giống nhau. Thậm chí cả khi rất nhiều người đang cùng nghiên cứu một môn nghệ thuật thì phương hướng nghiên cứu của họ cũng vẫn có sự khác biệt. Cũng giống như việc viết chữ, chúng ta đều có thể viết chữ, nhưng nét chữ của mỗi người lại khác nhau. Mỗi người đều có phương thức hoạt động của riêng mình.

Công việc của con người được biểu hiện qua sự vận động. Công việc là biểu hiện bên ngoài của tư tưởng, đồng thời cũng khai thác tiềm năng vận động bên trong con người. Nếu một người không thể phát triển toàn bộ tổ chức cơ của mình, hoặc chỉ dùng cơ bắp vào lao động chân tay nặng nhọc thì tâm lí của người này – vì lí do vận động – cũng sẽ dừng lại ở một trình độ rất thấp.

Vì thế đời sống tâm lí của một người chịu ảnh hưởng của công việc mà anh ta làm. Đời sống tâm lí của một người chưa từng lao động sẽ ở trong trạng thái vô cùng nghiêm trọng, bởi vì tuy chúng ta không thể phát huy đầy đủ mọi tiềm năng của cơ bắp, nhưng nếu chúng ta chỉ ngồi ì một chỗ thì sẽ ảnh hưởng tới những cơ bắp đang sử dụng. Sức sống của người này cũng sẽ trở nên vô cùng yếu ớt, đó chính là lí do vì sao thể dục và các trò chơi đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường, đó là bởi nó có thể ngăn ngừa sự thoái hóa của hệ thống cơ bắp.

Xét từ góc độ này, chúng ta nên tuân thủ kế hoạch của nhà trường, tiến hành xen kẽ hoạt động trí óc và hoạt động thể lực, như vậy mới có thể khiến toàn bộ tổ chức cơ của trẻ có được sự rèn luyện hữu ích. Điều này không có quan hệ gì với việc học tập một kĩ năng đặc biệt nào đó. Giáo dục hiện đại thường chú trọng việc học viết chữ để biến người được giáo dục trở thành viên chức, điều này hoàn toàn đi ngược lại quan điểm nói trên. Theo hiểu biết của chúng tôi, kiểu giáo dục chuyên nghiệp này không thể đạt được mục đích vận động. Cách nghĩ của chúng tôi hoàn toàn khác. Chúng tôi cho rằng, trẻ thông qua việc nâng cao khả năng phối hợp vận động để hoàn thiện tâm lí của bản thân, tiến tới thông qua tâm lí để ảnh hưởng đến sự vận động.

Nếu tách rời khỏi sự vận động, bộ não sẽ phát triển độc lập, dường như không chịu ảnh hưởng của vận động. Một số vận động không chịu sự chi phối của bộ não sẽ thỉnh thoảng xuất hiện. Tình trạng này rất có hại. Sự vận động là tối quan trọng đối với việc tiếp xúc với môi trường xung quanh và thiết lập mối quan hệ với người khác. Vận động phải phát triển dựa trên cơ sở đó.

Việc vận động phục vụ cả chỉnh thể con người cũng như mối liên hệ giữa con người với thế giới bên ngoài.

Nguyên tắc và quan điểm của con người hiện đại quá chú trọng đến sự hoàn thiện bản thân và thực hiện cái tôi. Khi chúng ta thấu hiểu mục đích thật sự của vận động, ý thức coi bản thân là trung tâm đó sẽ lập tức tiêu tan. Chúng ta sẽ nỗ lực phát huy hết những năng lực tiềm tàng, chúng ta phải tuân thủ cái gọi là “triết học vận động”. Vận động chính là sự khác biệt giữa sinh vật và phi sinh vật. Những vật mang sự sống không bao giờ vận động một cách tùy tiện. Sự vận động của sinh vật đều có tính mục đích và tuân thủ nguyên tắc nhất định của tự nhiên.

Chúng ta hãy thử tưởng tượng một chút, nếu tất cả mọi vật đều bất động thì mọi chuyện sẽ ra sao. Nếu tất cả thực vật ngừng sinh trưởng thì sẽ không có hoa tươi và quả ngọt. Độc tố trong không khí sẽ tăng lên rất nhiều. Nếu mọi sự vận động đều ngừng lại, chim chóc bất động trên cành cây, côn trùng rơi xuống mặt đất, các loài động vật không còn đi tìm mồi, cá ngừng bơi, thế giới này sẽ trở nên đáng sợ biết bao!

Tất nhiên trạng thái bất động không thể xảy ra, nếu mọi sự vận động ngừng lại, tất cả sinh vật vận động không mục đích thì cả thế giới sẽ trở nên hỗn loạn. Mỗi loài vật đều có phương thức vận động riêng, mục đích vận động riêng. Giữa những sự vận động khác nhau đó có sự cân bằng hài hòa, cùng hướng tới một mục tiêu chung.

Vận động và lao động không thể tách rời. Con người và xã hội con người sinh sống có mối liên hệ chặt chẽ với sự vận động. Nếu tất cả loài người dừng lao động một tháng, loài người có thể sẽ bị hủy diệt. Vì vậy, sự vận động không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn mang tính xã hội. Nếu sự vận động của con người chỉ nhằm mục đích rèn luyện cơ thể thì tiềm năng của con người có thể sẽ biến mất, đồng thời cũng mất đi toàn bộ sức sáng tạo.

Trật tự xã hội phụ thuộc vào sự vận động với mục đích thiết lập trật tự. Cá thể trong xã hội vừa phải phục vụ bản thân cá thể, vừa phải phục vụ xã hội. Khi nói đến “hành vi” của người và động vật, chúng tôi muốn nói đến sự vận động có mục đích. Loại hành vi này là hạt nhân của hành động, không chỉ thỏa mãn mục đích cá nhân, ví dụ như dọn vệ sinh trong phòng, mà còn có mục đích sâu xa hơn là phục vụ người khác. Khiêu vũ là một hoạt động mang tính cá nhân nhất, nhưng nếu không có khán giả (cũng chính là không có mục đích xã hội), thì khiêu vũ cũng không còn nhiều ý nghĩa.

Chúng ta nên hiểu nguyên tắc của tự nhiên, hiểu rằng mỗi sự sống đều phụ thuộc vào sự vận động riêng biệt, mà sự vận động này không chỉ phục vụ mục đích của bản thân sự sống đó. Điều này rất có ích trong việc tìm hiểu trẻ em, đồng thời tiến hành chỉ đạo trẻ tốt hơn.

❁ ❁ ❁

Ảnh: Viktor Jakovlev on Unsplash

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x