Trang chủ » Giới thiệu cách ngôn yoga của Pantajaly

Giới thiệu cách ngôn yoga của Pantajaly

by Trung Kiên Lê
38 views

 Lời giới thiệu của người dịch

Đại sư Vivekananda

 JNĀNA-YOGA

Sự cần thiết của tôn giáo

Thực tính của con người

Mãyã

Mãyã và sự tiến hóa trong quan niệm về thượng đế

Mãyã và tự do

Cái tuyệt đối về sự biểu hiện

Thượng đế trong vạn hữu

Thực chứng

Tính thống nhất trong đa thù

Sự tự do của linh hồn

Vũ trụ thế giới vĩ mô

Thế giới vi mô

Sự bất tử

Chân ngã (Atman)

Atman: ràng buộc và giải thoát

Con người thực và con người biểu kiến

Vedanta thực tiễn I

Vedanta thực tiễn II

Vedanta thực tiễn III

Vedanta thực tiễn IV

Con đường thực chứng tôn giáo phổ quát

Lý tưởng của tôn giáo phổ quát

BHAKTI-YOGA

Lời cầu nguyện

Định nghĩa Bhakti

Triết học về thần Isvara

Thực chứng tâm linh: Mục tiêu của Bhakti-yoga

Cần có một bậc đạo sư (Guru)

Phẩm chất của người nhiệt tâm cầu đạo và vị đạo

Các hóa thân

Âm om (Aum) huyền mật

Sùng bái vật thay thế hay ngẫu tượng

Pháp môn tu học

Tu tập pháp môn Bhakti như thế nào

Bước đầu buông xả

Sự buông xả của hành giả Bhakti phát sinh từ yêu thương

Bản chất tự nhiên của Bhkti-yoga và bí quyết cốt yếu

Những hình thức biểu hiện của tình yêu

Lòng bác ái

Tính nhất như giữa tri thức tâm truyền và tình yêu tối thượng

Tam giác tình yêu

Thượng đế của tình thương là bằng chứng của chính

Cách biểu hiện tình yêu của con người dành cho thượng đế

Kết luận

KARMA-YOGA

Karma và ảnh hưởng của nó trên tính cách

Ai cũng vĩ đại trong chính chức vị của mình

Bí quyết làm việc

Bổn phận là gì?

Chúng ta tự giúp mình, không phải giúp thế gian

Vô chấp là vô ngã hoàn toàn

Tự do

Lý tưởng của Karma-yoga

RAJA-YOGA

Lời tựa của tác giả

Lời giới thiệu

Những giai đoạn đầu tiên

Prāna

Prāna tâm linh

Điều khiển Prana tâm linh

Pratyahara và Dharana

Dhyāna và Samādhi

Tóm lược về Rāja-yoga

Giới thiệu cách ngôn yoga của Pantajaly

Chương I: Chú tâm - tác dụng tâm linh

Chương II: Chú tâm - Thực hành

Những quyền năng

Tự tại

Phụ lục: Tham chiếu đến yoga

Thuật ngữ

Ghi chú thêm của người dịch

Trước khi đi vào tác phẩm Cách ngôn Yoga của Pantajali, tôi sẽ thử thảo luận về một chủ đề lớn, nền tảng của mọi lý thuyết tôn giáo dành cho các hành giả yogi.

Có vẻ như những đầu óc vĩ đại trên thế giới đều nhất trí rằng, và hầu như đã được những nhà nghiên cứu thế giới vật lý chứng minh, chúng ta là kết quả và là sự biểu hiện của một trạng thái tuyệt đối nằm đằng sau trạng thái tương đối hiện giờ của chúng ta, và chúng ta sẽ quay về lại với trạng thái ban sơ đó.

Nếu chấp nhận điều này thì câu hỏi đặt ra là: cái gì tốt hơn, trạng thái tuyệt đối hay trạng thái hiện nay? Không ít người cho rằng tình trạng trạng thái hiện nay là trạng thái cao nhất của con người.

Những tư tưởng gia lỗi lạc đều quan niệm rằng chúng ta là những mẫu biểu hiện của một thể nhất như không sai biệt, và trạng thái sai biệt này cao hơn trạng thái tuyệt đối.

Họ cho rằng trong trạng thái tuyệt đối không thể có bất kỳ phẩm tính nào, chắc chắn nó phải trơ lỳ, vô cảm và không có sức sống, rằng chỉ có cuộc đời này là đáng để hưởng thụ, do đó chúng ta phải bám chặt lấy nó. Trước hết, chúng ta cần phải tìm hiểu những lời giải đáp khác về cuộc đời.

Có một lời giải đáp cũ cho rằng sau khi chết đi con người vẫn cứ y nguyên như cũ, mọi phẩm tính tốt xấu của anh ta vẫn cứ mãi mãi như vậy.

Nói theo luận lý học thì điều này có nghĩa là cùng đích của con người là thế giới, khi thế giới này được nâng lên một tầng cao hơn và được gột sạch điều xấu ác thì đó là trạng thái được gọi là thiên đàng. Khi đối mặt với trạng thái đó thì học thuyết này tỏ ra phi lý và non nớt, bởi vì một trạng thái như thế không thể tồn tại.

Không thể có thiện mà không có ác, không thể có xấu mà không có tốt. Một thế giới toàn điều tốt đẹp và không có điều xấu ác được các nhà luận lý học Ấn Độ gọi là “lâu đài trên không”.

Hiện nay, một số trường phái triết học đã trình bày một học thuyết khác, chủ trương số phận con người phải luôn luôn phát triển, luôn luôn đấu tranh để tiến tới nhưng không bao giờ đạt đến mục tiêu.

Lời phát biểu này, mặc dù có vẻ hấp dẫn, song cũng phi lý, bởi không hề có một chuyển động tuyến tính nào như thế.

Mọi chuyển động đều đi theo đường tròn. Nếu bạn nhặt một viên đá và ném vào khoảng không, giả sử các bạn sống đủ lâu và viên đá đó không bị lực cản thì nó sẽ quay về chính bàn tay bạn. Một đường thẳng được kéo dài đến vô tận phải kết thúc nơi đường tròn.

Bởi vậy, quan niệm cho rằng số phận con người phải liên tục tiến về phía trước, không bao giờ dừng lại, là điều phi lý.

Mặc dù quan niệm chuyển động vòng tròn này không liên quan đến chủ đề hôm nay, nhưng tôi muốn lưu ý các bạn rằng nó giải thích được quan niệm đạo lý cho rằng các bạn không được ghét ai cả mà phải thương yêu.

Cũng như trong trường hợp dòng điện, hay những lực khác, lý thuyết hiện đại cho rằng lực xuất phát từ máy phát điện, hoàn tất chu kỳ rồi quay trở lại máy phát điện, yêu ghét cũng thế, chúng đều quay trở lại nơi xuất phát.

Bởi vậy, các bạn không được ghét bỏ một người nào, vì lòng hận thù xuất phát từ các bạn, sau một quãng đường dài, lại quay về với chính các bạn. Còn nếu các bạn yêu thương thì tình yêu đó sẽ quay về lại với các bạn, sau khi hoàn tất một chu kỳ.

Có một điều chắc chắn là từng chút nhỏ hận thù xuất phát từ trái tim người nào cũng đều quay về lại với bản thân người đó bằng trọn vẹn sức mạnh, không có gì có thể làm dừng nó được. Mọi cảm xúc thương yêu cũng quay ngược về giống hệt như thế.

Dựa trên thực tế cùng những cơ sở khác, chúng ta thấy rằng quan niệm tiến bộ vĩnh viễn không được vững chắc, vì hoại diệt là đích đến của muôn vật trên thế gian này. Bao đấu tranh, hy vọng, sợ hãi và niềm vui của chúng ta, tất cả những thứ đó sẽ dẫn đến điều gì? Tất cả chúng ta đều sẽ kết thúc trong cái chết.

Không có gì chắc chắn hơn điều đó. Vậy thì quan niệm chuyển động theo đường thẳng, theo sự tiến bộ vô tận này ở đâu ra? Điều đó chỉ có nghĩa: đi một quãng đường dài rồi quay về lại với tâm điểm xuất phát. Hãy xem cách mặt trời, mặt trăng cùng muôn vì tinh tú được tạo thành từ tinh vân, rồi quay lại với tinh vân ra sao.

Những điều tương tự đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Cây cối lấy chất liệu từ đất, dung hóa xong rồi trả về với đất. Mọi hình tướng trong thế gian này đều được cấu thành từ những nguyên tử, rồi quay về thành những nguyên tử đó. Không thể có chuyện cùng một định luật lại tác động khác nhau tại những địa điểm khác nhau.

Định luật là nhất quán, không có gì chắc chắn hơn điều đó. Nếu đó là định luật trong tự nhiên thì nó cũng áp dụng cho tâm trí. Tâm trí sẽ tan rã và quay về với cội nguồn nguyên thủy. Dù muốn hay không thì chúng ta cũng đều phải quay về lại cội nguồn nguyên thủy, được gọi là Thượng Đế hay đấng Tuyệt Đối.

Tất cả chúng ta đều xuất phát từ Thượng Đế, tất cả chúng ta đều buộc phải quay về lại với Thượng Đế, các bạn thích gọi bằng bất cứ danh từ nào cũng được – Thượng Đế, đấng Tuyệt Đối hay giới Tự Nhiên – thì sự việc vẫn cứ y nhiên không đổi.

“Từ Đấng đó vũ trụ được sinh ra, trong Đấng đó tất cả tạo vật được sống, và tất cả đều quay về với Đấng đó”. Đó là một sự kiện chắc chắn. Thiên nhiên hoạt động trên cùng một cấp độ, những gì đang diễn ra ở tinh cầu này cũng đang diễn ra ở muôn triệu tinh cầu khác.

Các bạn thấy những hành tinh như thế nào thì trái đất, con người và muôn ngàn vì sao cũng đều y như thế ấy. Con sóng khổng lồ chứa nhiều con sóng nhỏ, có thể đến hàng triệu.

Cũng vậy, sự sống của toàn thể thế giới này được cấu thành từ sự sống của muôn triệu sinh linh bé nhỏ, và cái chết của toàn thể thế giới này được cấu thành từ cái chết của muôn triệu loài sinh linh bé nhỏ đó.

Bao giờ, vấn đề được đặt ra: quay về với Thượng Đế có phải là đi đến trạng thái cao hơn hay không? Các triết gia yoga khẳng định chắc nịch là có. Họ bảo rằng con người hiện nay đang ở trong trạng thái suy đồi, không một tôn giáo nào trên đời này lại cho rằng con người đang phát triển.

Quan niệm đó cho rằng ban sơ con người vốn hoàn hảo và trong sạch, rồi họ suy đồi đến mức không thể suy đồi thêm được nữa, cuối cùng phải đến lúc họ lại vươn lên cao để hoàn tất một chu kỳ, chu kỳ đó cần phải được vạch ra.

Cho dù có suy đồi đến bao nhiêu đi chăng nữa thì rốt cuộc con người cũng phải vươn lên cao trở lại để quay về với nguồn cội ban sơ là Thượng Đế.

Thoạt kỳ thủy con người đến từ Thượng Đế, ở giai đoạn giữa họ biến thành con người, rồi cuối cùng họ lại quay về với Thượng Đế. Đây là cách sắp xếp con người trong thuyết nhị nguyên.

Theo thuyết nhất nguyên thì con người vốn là Thượng Đế, và biến thành Thượng Đế trở lại. Nếu trạng thái hiện nay là trạng thái cao siêu thì cớ sao lại có biết bao nhiêu là nỗi kinh hãi và khốn khổ? Và cớ sao lại có chung cục cho nó? Nếu đây là trạng thái cao siêu thì việc gì phải chấm dứt nó?

Những gì hư hoại và suy đồi đều không thể là trạng thái tối cao. Cớ sao nó lại đáng kinh tởm, đáng bất mãn đến thế? Chỉ có một cách biện minh là thông qua nó, chúng ta mới có thể vươn tới một cảnh giới cao hơn, chúng ta phải trải qua cuộc đời này để phục hồi lại những gì đã mất.

Đặt một hạt giống trong lòng đất, sau một thời gian, nó sẽ bị phân rã, và từ sự phân rã đó phát sinh ra một cây sum suê to lớn. Mọi hạt giống đều phải bị phân rã mới biến thành đại thụ.

Do đó, kết quả là sớm muộn gì chúng ta cũng đạt đến một trạng thái tốt đẹp hơn cái trạng thái mà chúng ta gọi là “con người”. Liệu chúng ta có thể thoát khỏi trạng thái này bằng cách tự tử hay không? Hoàn toàn không. Điều đó còn trở nên tồi tệ hơn.

Hành hạ thể xác, hay nguyền rủa thế gian cũng không phải là cách để thoát ra. Chúng ta cần phải trải qua cảnh “đọa đày nơi địa ngục”, và trải qua cảnh đó càng sớm càng tốt. Nhưng phải luôn nhớ rằng đó không phải là trạng thái cao nhất.

Phần thực sự khó hiểu là Cảnh Giới Tuyệt Đối – được gọi là trạng thái tối cao, đó không phải là trạng thái trơ trơ vô cảm như cỏ cây hay sỏi đá, như một số người e ngại.

Theo họ thì chỉ có hai trạng thái tồn tại: của sỏi đá và của tư tưởng. Họ lấy quyền gì để giới hạn sự tồn tại vào hai loại đó? Há không có một cái gì đó vô cùng cao viễn so với tư tưởng hay sao?

Khi dao động ánh sáng quá thấp, ta không thấy được nó, khi dao động đó mạnh lên một chút thì nó trở thành ánh sáng với ta, nhưng khi dao động đó trở nên quá mãnh liệt thì ta lại không thấy được nữa, nó trở thành bóng tối đối với ta.

Có phải bóng tối tại nơi kết thúc cũng giống như bóng tối tại lúc khởi đầu? Chắc chắn là không: chúng khác nhau một trời một vực. Trạng thái vô suy tư của tảng đá có giống như trạng thái vô suy tư của Thượng Đế hay không? Chắc chắn là không.

Thượng Đế không suy tư, Ngài không lý luận. Vì sao Ngài lại thế? Có cái gì Ngài lại không biết mà phải suy tư? Tảng đá không thể suy tư, Thượng Đế cũng không suy tư. Đó chính là sự khác biệt.

Các triết gia này cho rằng vượt qua giới hạn của tư tưởng là điều đáng sợ, họ không tìm thấy gì trong cõi ngoài đó. Nhưng có một trạng thái tồn tại cao siêu hơn rất nhiều so với lý luận.

Chính ở bên ngoài phạm vi trí năng mà chúng ta mới thực sự tìm thấy được giai đoạn đầu tiên của đời sống tôn giáo. Khi bước qua khỏi phạm vi của tư tưởng, trí năng và mọi khả năng suy luận là các bạn đang có những bước đi đầu tiên hướng về Thượng Đế, và đó là sự khởi đầu của cuộc sống.

Cái mà chúng ta thường gọi là cuộc sống này chỉ là một trạng thái phôi thai. Câu hỏi tiếp theo sẽ là: lấy gì để chứng minh rằng trạng thái vượt ngoài phạm vi của tư tưởng và trí năng này là trạng thái tối cao?

Trước hết, tất cả những vĩ nhân trên thế giới – những vị vĩ đại hơn vạn ngàn lần những kẻ chỉ thuyết giảng suông, những vị làm lay chuyển cả thế giới, những vị sống hoàn toàn vị tha không bao giờ nghĩ đến bản thân – đều tuyên bố rằng cõi đời này chỉ là một quãng đường ngắn ngủi trên lộ trình hướng đến Vô Biên.

Thứ hai, không chỉ nói thế, các vị còn chỉ cho mọi người thấy con đường đó, chỉ dẫn phương pháp để ai ai cũng có thể đi theo bước chân mình. Thứ ba, không có con đường nào khác.

Không có cách lý giải nào khác. Nếu mặc nhiên cho rằng không có trạng thái nào cao hơn cuộc sống này thì vì sao chúng ta lại cứ mãi mãi đi qua cái vòng tròn này? Điều gì có thể giải thích được sự tồn tại của thế giới?

Thế giới hữu hình này sẽ là giới hạn của tri thức chúng ta, nếu chúng ta không thể đi xa hơn, nếu chúng ta không muốn đòi hỏi điều gì thêm nữa. Đó là cái được gọi là thuyết bất khả tri.

Nhưng có lý do gì để tin vào chứng cứ của giác quan? Tôi muốn gọi kẻ theo thuyết bất khả tri thực sự là người muốn đứng chết trân trên đường phố. Nếu lý tính là tất cả thì chúng ta phải chấp nhận thuyết hư vô, và không còn chỗ nào để đứng.

Nếu người nào cho rằng ngoài tiền bạc và danh vọng ra, tất cả đều bất khả tri thì y chỉ là một kẻ lừa bịp. Immanuel Kant đã nói rất rõ ràng rằng chúng ta không thể nào xuyên thấu được bức tường khủng khiếp chết người được gọi là lý tính.

Nhưng sự kiện chúng ta không thể vượt qua lý tính lại là quan niệm khởi đầu để làm cơ sở lập thuyết cho tất cả tư tưởng Ấn Độ; quan niệm đó dám tìm tòi, và đã thành công khi tìm ra được một cái gì đó cao siêu hơn lý tính, và chỉ tại đó ta mới tìm thấy lời giải thích cho trạng thái hiện nay.

Đó là giá trị của việc nghiên cứu Yoga, một pháp môn đưa chúng ta vượt ra ngoài cõi thế. “Ngài là Cha của chúng con, và sẽ đưa tất cả chúng con sang bờ bên kia của biển vô minh”. Chỉ có vượt qua vô minh, chứ không phải là thứ gì khác, mới là mục tiêu của tôn giáo.

Tác giả: Swami Vivekananda
Dịch giả: Huỳnh Ngọc Chiến
(Nếu bạn yêu thích hãy mua sách giấy ủng hộ dịch giả và nhà xuất bản)

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x