Trang chủ » 8. QUÝ TỘC

8. QUÝ TỘC

by Trung Kiên Lê
107 views

TÁC GIẢ - LỜI GIỚI THIỆU

I. PLATON

1. Bối cảnh

2. Socrate

3. Thời kỳ học hỏi của Platon

4. Vấn đề đạo đức

5. Vấn đề chính trị

6. Vấn đề tâm lý

7. Giải pháp tâm lý

8. Giải pháp chính trị

9. Giải pháp luân lý

10. Phê bình

II. ARISTOTE

1. Một chút lịch sử

2. Công việc của Aristote

3. Nền tảng của luận lý học

4. Hệ thống khoa học

5. Siêu hình học và thực chất của Thiên Chúa

6. Tâm lý học và bản chất của nghệ thuật

7. Đạo đức học và bản chất của hạnh phúc

8. Khoa học - chính trị

9. Phê bình

10. Tuổi già và chết

III. FRANCIS BACON

1. Từ ARISTOTE đến thời phục hưng

2. Sự nghiệp chính trị của Bacon

3. Những bài tiểu luận

4. Cuộc tái tạo vĩ đại

5. Phê bình

6. Kết luận

IV. SPINOZA

1. Tiểu sử

2. Luận về tôn giáo chính trị

3. Sự cải tiến trí năng

4. Đạo đức học

5. Chính trị luận

6. Ảnh hưởng của Spinoza

V. VOLTAIRE

1. Paris: Oedipe

2. London: những lá thơ từ Anh quốc

3. Cuộc sống ở Cỉrey

4. Ở Potsdam với hoàng đế Frédérique

5. Les délices: "Luận về đạo đức"

6. Ferney: Candide

7. Bách khoa tự điển và triết lý tự điển

8. Chống độc tài áp bức

9. Voltaire và Rousseau

10. Đoạn kết

VI. IMMANUEL KANT

1. Những nẻo đường đến KANT

2. Con người

3. Phê bình lý tính thuần túy

4. Phê bình lý tính thực tiễn

5. Về tôn giáo và lý trí

6. Về chính trị và nền hòa bình vĩnh cửu

7. Phê bình và đánh giá

8. Vài lời về Hegel

VII. SCHOPENHAUER

1. Thời đại

2. Con người

3. Thế giới kể như biểu tượng

4. Thế giới: dục vọng

5. Thế giơi: Sự ác

6. Minh triết về nhân sinh

7. Minh triết về cái chết

8. Phê bình

VIII. HERBERT SPENCER

1. COMTE và DARWIN

2. Sự phát triển của Spencer

3. Nguyên lý đầu

4. Sinh vật học: quá trình tiến hóa của sự sống

5. Tâm lý học: sự tiến hóa của tâm trí

6. Xã hội học: tiến hóa của xã hội

7. Đạo đức học: tiến hóa của đạo đức

8. Phê bình

9. Kết luận

IX. FRIEDRICH NIETZSCHE

1. Dòng dõi

2. Tuổi trẻ

3. Nietzsche và Wagner

4. Tiếng hát Zarathustra

5. Đạo đức siêu nhân

6. Siêu nhân

7. Suy tàn

8. Quý tộc

9. Phê bình

10. Kết cục

Dân chủ có nghĩa là lang thang trôi giạt; có nghĩa là cho phép mỗi phần tử của một cơ thể làm bất cứ gì nó thích; có nghĩa là sự đứt mạch lạc và hỗ tương, sự lên ngôi của phóng túng và hỗn loạn. Dân chủ có nghĩa là sự thờ phụng cái tầm thường, và sự thù ghét những gì trác tuyệt. Nó có nghĩa là không thể có những vĩ nhân. Làm sao những con người vĩ đại có thể phục tùng sự thiếu phẩm cách và trơ tráo của một cuộc bầu cử? Họ sẽ có cơ hội nào đâu? “Cái mà người ta thù ghét như những con chó thù ghét chó sói, chính là một tâm hồn phóng khoáng, kẻ thù của mọi xiềng xích, con người không thờ phụng”.

Làm sao siêu nhân có thể xuất phát từ một đám đất như thế? Và làm sao một quốc gia có thể trở thành vĩ đại được, khi những người vĩ đại nhất của quốc gia ấy nằm trong trạng huống thất dụng, chán nản, có lẽ không ai biết đến? Một xã hội như thế sẽ mất cả tư cách; sự mô phỏng nằm theo chiều ngang thay vì theo chiều dọc; không phải siêu nhân, mà con người của đa số trở thành lý tưởng mẫu mực; mọi người thành ra giống hệt mọi người khác; ngay hai giống Nam – Nữ cũng tiệm cận nhau. Đàn ông trở thành đàn bà và đàn bà thành đàn ông (Ý chí quyền lực, i, 382-4).

Nữ tính, như vậy, thành hệ luận tự nhiên của dân chủ và Ki-tô giáo. “Ở đây ít có Nam tính; do đó đàn bà cố tự tạo cho mình nam tính. Vì chỉ có người đàn ông đầy đủ nam tính mới duy trì được nữ tính nơi đàn bà”. Ibsen, “kẻ tớ gái già điển hình ấy” đã tạo nên “người đàn bà giải phóng”. “Đàn bà được tạo thành do xương sườn của tôi nghèo nàn một cách kỳ lạ! – người đàn ông nói”. Đàn bà đã mất hết quyền năng và thế lực vì sự giải phóng của họ; đàn bà ngày nay có đâu địa vị họ đã được hưởng dưới thời Bourbons? Bình đẳng nam nữ là điều bất khả, vì cuộc chiến tranh giữa họ bất tuyệt; ở đây không có hoà bình nếu không có chiến thắng – hoà bình chỉ đến khi bên này hay bên kia được công nhận là chủ tể.

Cố bình đẳng với người đàn bà là chuyện nguy hiểm; họ sẽ không bằng lòng với chừng ấy; họ chẳng thà chịu phục tùng nếu người đàn ông đúng là đàn ông. Trên tất cả, sự toàn hảo và hạnh phúc của họ nằm ở mẫu tính. “Mọi sự nơi đàn bà là một bí hiểm và mọi sự nơi đàn bà chỉ có một giải đáp: ấy là sinh con”. “Đàn ông đối với đàn bà chỉ là một phương tiện, cứu cánh luôn luôn là đứa con. Còn đàn bà đối với đàn ông là gì?… Một đồ chơi nguy hiểm”. “Đàn ông phải được huấn luyện sẵn sàng cho chiến tranh; và đàn bà cho việc tái tạo chiến sĩ! Mọi việc khác đều là điên rồ”. Tuy nhiên, “người đàn bà toàn hảo là một mẫu nhân loại cao hơn đàn ông toàn hảo, và bởi thế, một cái gì hiếm hoi hơn nhiều… Người ta có lịch sự với đàn bà bao nhiêu cũng không đủ”.

Một phần của sự căng thẳng trong hôn nhân nằm ở chỗ hôn nhân làm trọn vẹn người đàn bà mà lại thu hẹp, làm trống rỗng người đàn ông, khi một người đàn ông tán tỉnh một người đàn bà, chàng tình nguyện hiến cả thế giới cho nàng, và khi nàng kết hôn cùng chàng, chàng đã làm thế thật, chàng phải quên cả thế giới khi đứa con ra đời; vị tha tính trong tình yêu trở thành tính vị kỷ của gia đình. Sự thẳng thắn lương thiện và óc canh tân là những xa xỉ phẩm của hoàn cảnh độc thân. “Ở phạm vi liên can đến tư tưởng triết học cao cả, mọi người đàn ông có vợ đều khả nghi…

Đối với tôi, dường như là điều phi lý khi một kẻ đã chọn lãnh vực mình là sự đánh giá toàn thể cuộc sự tồn sinh, lại tự rước vào mình gánh nặng gia đình, kiếm gạo bảo đảm an ninh và địa vị xã hội cho vợ con”. Nhiều triết gia đã chết khi đứa con của họ ra đời. “Gió luồn qua lỗ khoá bảo tôi: “Lại đây!”. Cánh cửa buồng tôi khôn lanh tự mở ra, bảo: “đi đi!”. Nhưng tôi cứ nằm vì bị xiềng xích bởi lòng yêu con cái. (Con người cô đơn! Nietzsche, 77, 393).

Cùng với nữ tính, sinh ra xã hội chủ nghĩa và tình trạng hỗn độn; tất cả bấy nhiêu đều là bè lứa của dân chủ; nếu bình quyền chính trị là chánh đáng, thì sao lại không bình quyền luôn cả kinh tế? Tại sao phải có những lãnh tụ? Có những nhà xã hội chủ nghĩa thán phục tác phẩm Zarathustra; nhưng không cần sự thán phục của họ. “Có một vài người giảng thuyết chủ nghĩa của ta về nhân sinh nhưng đồng thời lại là người thuyết giáo về bình đẳng… Ta không muốn lầm lẫn với những kẻ thuyết về bình đẳng ấy. Vì trong ta chân lý bảo rằng: con người không bình đẳng”. “Chúng ta muốn đừng có một điểm chung nào cả”. “Hỡi những người thuyết về bình đẳng, tính điên loạn chuyên chế của sự bất tài từ trong các người đã kêu gào đòi bình đẳng”.

Thiên nhiên ghét bình đẳng mà yêu sự phân biệt những cá nhân, giai cấp và chủng loại. Xã hội chủ nghĩa là phản sinh vật học, trong quá trình tiến hoá, những chủng loại, giống nòi, giai cấp hay cá nhân thấp kém bị sử dụng bởi hạng cao cấp hơn, mọi cuộc sống là sự khai thác, và chỉ tồn tại trên sự sống khác, cá lớn nuốt cá bé, đấy là tất cả câu chuyện. Xã hội chủ nghĩa là sự ganh tị: “Chúng muốn chiếm hữu cái gì chúng ta có” (Zarathustra, 137).

Tuy nhiên, đấy là một quá trình để điều khiển; tất cả điều cần thiết để điều khiển nó là thỉnh thoảng mở ra cánh cửa giả giữa chủ và nô lệ, để cho những lãnh tụ của sự bất mãn lên thiên đàng hết. Không phải những lãnh tụ là đáng sợ, mà những kẻ dưới thấp, những kẻ nghĩ rằng bằng một cuộc cách mạng họ có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vốn là kết quả tự nhiên của sự bất lực và biếng nhác của họ. Tuy nhiên, người nô lệ chỉ cao quý khi họ phản kháng.

Dù sao nô lệ cũng cao quý hơn những người chủ của họ ngày nay – giới trưởng giả. Dấu hiệu của sự hèn kém trong văn hoá thế kỷ 19 là con người có tiền của đã là đối tượng cho quá nhiều tôn sùng và thèm khát. Nhưng cả những thương gia này cũng là nô lệ nữa, những con hình nhân của tập tục, nạn nhân của sự bận rộn; họ không có thì giờ để có những tư tưởng mới. Đối với bọn họ, sự suy nghĩ là điều tốt kiến thức và những niềm vui của tri thức đều vượt ngoài tầm họ. Do đó mà họ không ngừng lăng xăng đi tìm “Hạnh phúc”, với những ngôi nhà to lớn không bao giờ là tổ ấm, cảnh xa xỉ hạ thấp khiếu thẩm mỹ, những phòng tranh treo “nguyên bản” có đính kèm giá tiền, những lạc thú nhục dục làm chậm lụt tâm hồn hơn là giải lao, thêm đà cho tâm trí.

“Hãy nhìn những kẻ nông cạn kia! Họ dồn chứa tài sản và bởi đó, cứ mỗi ngày một nghèo nàn thêm”, họ chấp nhận tất cả những kiềm thúc của chủ nghĩa quý tộc nhưng không đạt đến được vương quốc của tâm trí để bù lại. “Hãy trông họ leo trèo, những con khỉ nhanh nhẹn kia! Họ leo lên nhau và cứ thế tự kéo nhau vào trong bùn lầy sâu thẳm… Mùi tanh hôi của bọn con buôn, sự xoay sở của tham vọng: hơi thở độc địa xấu xa”. Những người như thế có tài sản cũng vô ích vì họ không thể đem lại phẩm cách cho tài sản bằng lối sử dụng cao quý, bằng sự bảo trợ phải cách cho văn học hay nghệ thuật. “Chỉ có con người của tri thức nên nắm giữ tài sản”; Những người khác thường xem tài sản như tự nó đã là cứu cánh và theo đuổi nó một cách càng ngày càng liều lĩnh. Hãy nhìn “sự điên cuồng hiện tại của các quốc gia chỉ muốn một điều là sản xuất thật nhiều, càng nhiều càng tốt, và càng giàu càng hay”.

Cuối cùng con người trở thành một con chim mồi. “Họ rình nhau, họ cướp của nhau bằng cách nằm phục kích. Điều ấy được gọi là láng giềng tốt… Họ tìm những lợi lộc nhỏ nhoi nhất từ mọi thứ rác rưới”. “Ngày nay, nền đạo đức con buôn thật chỉ là một lối khéo hơn của nền đạo đức cướp biển – mua ở thị trường rẻ nhất, bán ở thị trường đắt đỏ nhất”. Tất cả những người nầy đều kêu gào chính sách tự do mậu dịch, kêu gào được để yên, trong khi đấy chính là những kẻ cần nhất sự giám thị và kiểm soát. Có lẽ ngay cả một mức độ nào đó của xã hội chủ nghĩa, mặc dù nó nguy hiểm, sẽ được bênh vực ở đây; “chúng ta phải thu hồi các ngành vận tải và mậu dịch thuận lợi cho sự dồn chứa những tài sản kếch xù.

Do đó, đặc biệt là thị trường tiền tệ – khỏi bàn tay của những tư nhân hay công ty tư nhân” và hãy coi chừng những người sở hữu quá nhiều, hệt như coi chừng những kẻ không có ích gì cả, xem như là những mẫu người đầy nguy hiểm cho đoàn thể” (YTLM, i, 142).

Cao hơn giới trưởng giả, và thấp hơn giới quý tộc, là quân nhân. Một vị tướng sử dụng hết những người lính trên chiến trường ở đấy họ có cái khoái được chết dưới liều thuốc mê của sự vinh quang là một người cao quý gấp bội người chủ xưởng sử dụng hết những công nhân trong chiếc máy lợi tức của y; hãy quan sát sự nhẹ nhõm ngần nào nơi những người rời xưởng để ra trận chiến.

Napoléon không phải là một đồ tể chém giết mà là một ân nhân; ông đem lại cho người cái chết với danh dự quân nhân thay vì cái chết mòn dưới ách kinh tế, người ta lũ lượt kéo đến dưới lá tử-kỳ bởi vì họ thích những hiểm nguy của chiến trận hơn cảnh đều đều tẻ nhạt không thể chịu đựng trong việc chế tạo thêm một triệu cúc áo khác. “Một ngày kia danh dự sẽ dành cho Napoléon vì đã trong một thời tạo được một thế giới trong đó người đàn ông, chiến sĩ, có giá trị cao vượt hơn kẻ thương gia và bọn người thủ cựu hẹp hòi”.

Chiến tranh là một liều thuốc tuyệt diệu cho những dân tộc đang trở nên suy nhược ưa tiện nghi đáng khinh bỉ, chiến tranh kích động những thiên tính bị thối mục dần trong thời bình. Chiến tranh và sự tổng động viên vào quân đội là những liều thuốc giải độc cấp thiết đối với bịnh nhu nhược nữ hoá của dân chủ. “Khi những bản năng của một xã hội cuối cùng đưa đến sự bỏ bê chiến tranh và chinh phục, thì xã hội ấy đang suy tàn; nó đã chín mùi cho nền dân chủ và cho sự thống trị của bọn con buôn”. Tuy nhiên, những nguyên nhân của chiến tranh ngày nay không có gì cao thượng cả; những cuộc chiến của các triều đại và cuộc chiến vì tôn giáo có đôi chút thanh tao hơn sự dàn xếp bằng súng những tranh giành về thương mãi (Tri thức hân hoan).

“Trong vòng 50 năm những chính phủ Babel ấy (những nền dân chủ Âu châu) “sẽ nổ tung trong một cuộc chiến khổng lồ để tranh giành thị trường trên thế giới”. Nhưng có lẽ từ cơn điên cuồng ấy sẽ mọc lên nền thống nhất Âu châu; một mục tiêu mà cho dù phải trả giá bằng một cuộc chiến thương mãi cũng không lấy gì làm quá đắt. Vì chỉ từ một Âu châu thống nhất mới có thể sinh khởi nền quý tộc cao cả hơn nhờ đó Âu châu có thể được cứu chuộc.

Vấn đề của chính trị là ngăn ngừa đừng cho thương gia thống trị vì một con người như thế có tầm nhãn quan rất ngắn ngủi và tầm tay hẹp hòi của một chính khách, không phải nhãn quan nhìn xa thấy rộng của người quý tộc được huấn luyện để trị quốc. Con người thanh tao hơn có một quyền hành thiêng liêng để cai trị – nghĩa là, quyền hành của khả năng cao vượt hơn. Người thường cũng có chỗ của họ, nhưng không phải ở trên ngai. Ở đúng chỗ mình, người thường sẽ được hạnh phúc và những đức hạnh của nó cũng cần thiết cho xã hội như những đức hạnh của nhà lãnh đạo; “Một tâm trí sâu sắc sẽ không xem sự tầm thường tự nó là một điều bậy”.

Tính siêng năng, dè xẻn, đều đặn, điều độ, lòng tin vững mạnh, với những đức hạnh ấy, con người tầm thường có thể trở nên hoàn hảo, nhưng chỉ hoàn hảo trong vai trò dụng cụ. “Một nền văn minh cao là một hình tháp; nó chỉ có thể đứng trên một nền tảng rộng; điều kiện tiên quyết của nó là sự tầm thường được củng cố vững vàng mạnh mẽ”. Luôn luôn và ở khắp nơi, một số người sẽ làm lãnh tụ và một số làm tuỳ tòng; đại đa số sẽ bị bắt buộc và sung sướng được làm việc dưới sự điều khiển của người cao hơn (Kẻ chống Thiên chúa, 219 – 220).

Bất cứ nơi đâu gặp sinh vật, ta cũng nghe tiếng nói của phục tùng. Mọi sinh vật là những con vật phục tùng. Và điều thứ hai, kẻ nào không thể vâng lời chính mình kẻ ấy phải bị sai khiến. Đấy là tập tục của những sinh vật. Nhưng đây là điều thứ ba ta nghe: điều khiển khó khăn hơn phục tùng. Vì không những người điều khiển mang gánh nặng của tất cả những người phục tùng, và gánh nặng ấy dễ đè bẹp người, mà còn một nỗ lực và một hiểm nguy, ta thấy dường như được chứa đựng trong mọi sự điều khiển; và khi nào sinh vật điều khiển cũng tự liều mình” (Zarathustra, 159).

“Xã hội lý tưởng, như vậy, sẽ được chia làm ba hạng: những người sản xuất (tá điền, kẻ vô sản và thương gia), công chức (quân nhân và viên chức) và những người cai trị. Những người sau cùng này sẽ cai trị, nhưng không làm chức vụ trong chánh phủ; công việc cai trị là một việc hèn hạ. Những người thống trị sẽ là những chính khách triết gia hơn là những người giữ chức vụ trong bàn giấy.

Quyền uy của họ sẽ nằm trong sự kiểm soát tài chánh và quân đội, nhưng chính họ sẽ sống như những quân nhân hơn là như nhà tài chánh. Họ là những người của sự thanh nhã cũng như của sự can đảm và hùng mạnh; vị học giả và viên tướng soái trong cùng một con người. Họ sẽ được phối hợp bởi lịch sự và corps d’ esprit, những con người này được giữ gìn nghiêm nhặt rằng những giới hạn của đạo đức: sự kính trọng cổ tục, lòng biết ơn sự giám thị lẫn nhau, lòng ganh đua; và mặt khác khi cư xử với nhau họ sẽ có nhiều sáng kiến trong sự suy xét, tự điều khiển, lòng kiêu hãnh và tình bằng hữu”.

Lớp quý tộc này sẽ là một giai cấp chăng? và quyền lực của họ có tính cách tập truyền? Phải, phần đông là thế, nhưng thỉnh thoảng cũng có mở cửa cho những dòng máu mới vào. Nhưng không có gì có thể làm hỏng và yếu mòn một lớp quý tộc cho bằng việc cưới những người tầm thường giàu có, theo thói tục của quý tộc Anh; chính sự hôn phối lẫn lộn ấy đã làm hỏng tập đoàn thống trị vĩ đại nhất thế giới chưa từng thấy – Thượng viện quý tộc La-Mã. Không có trường hợp “Ngẫu sinh”; mỗi sự sinh ra là bản cáo trạng của thiên nhiên về một cuộc hôn phối; và con người toàn hảo chỉ xuất hiện sau nhiều thế hệ đào thải và chuẩn bị; “những tiền nhân của một người đã trả giá cho hiện thể của nó”.

Có phải điều này tổn thương quá nhiều đến hai lỗ tai dân chủ từ khuya của chúng ta chăng? Nhưng “Những nòi giống không chịu nổi nền triết học này là lúa đời rồi; và những nòi giống xem triết học như hồng phúc lớn lao nhất chính là những nòi giống có phần số làm bá chủ hoàn cầu”. Chỉ một nền quý tộc như thế mới có thể có thị kiến và can đảm để làm cho Âu châu thành một quốc gia, để chấm dứt cái quốc gia chủ nghĩa kiểu trâu bò này, cái “đất mẹ” ba xu này. Chúng ta hãy là “những người Âu châu tốt”, như Napoléon, như Goethe, như Beethoven, như Schopenhauer, như Stendhal, như Heine. Đã quá lâu chúng ta là những mảnh vụn, mảnh rời rạc của cái đáng lẽ phải là một đoàn thể. Làm sao một nền văn hoá lớn có thể sinh trưởng trong bầu không khí của thiên vị quốc gia và của lãnh thổ tính làm cho ta hẹp hòi? Thời đại của chính trị vụn đã qua. Khi nào thì nòi giống mới xuất hiện, và những lãnh tụ mới? Khi nào Âu châu sẽ được sinh ra đời?

Há ngươi chưa nghe gì về những đứa con của ta chăng? Hãy nói ta nghe về khu vườn của ta, những hòn đảo Hy vọng của ta, nòi giống mới tốt đẹp của ta. Vì chúng, ta giàu có, vì chúng, ta trở nên nghèo nàn… Có cái gì ta đã không từ nhượng? Có cái gì ta sẽ không bỏ để được có một điều: những đứa con kia, đồn điền sống động kia, những cây nhân sinh của ý chí và hy vọng tột vời của ta? (Ý chí quyền lực, ii, 353, 362-4, 371, 422).

❁ ❁ ❁ 
Tác giả: William Durant
Nguồn: DTV eBook

0 0 votes
Đánh giá bài viết

❁ Cánh cửa mở rộng ❁

guest

0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận
0
Bạn có suy nghĩ gì hay học được gì từ bài viết, hãy vô tư chia sẻ cùng nhau nhé!x